Chương 1: Cơ sở lý luận về thanh toán quốc tế và thị phần thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại. - Chương 2: Thực trạng về sự phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và thị phần thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn. - Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động thanh toán quốc tế và thị phần thanh toán quốc tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TTQT VÀ THỊ PHẦN TTQT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
TỔNG QUAN VỀ TTQT TẠI NHTM 1. Khái niệm TTQT Trong xu thế hội nhập hiện nay, bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tăng cường hợp tác với các nước trên thế giới. Quan hệ quốc tế giữa các nước bao gồm nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch. trong đó quan hệ kinh tế (mà chủ yếu là ngoại thương) chiếm vị trí chủ đạo, là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác tồn tại và phát triển.
Quá trình tiến hành các hoạt động quốc tế dẫn đến những nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT, trong đó NH là cầu nối trung gian giữa các bên. Vậy, "TTQT là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các NH của các nước liên quan" (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 294). Từ khái niệm trên cho thấy, TTQT phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt.
Hơn nữa, do hoạt động TTQT được hình thành trên cơ sở hoạt động ngoại thương và phục vụ chủ yếu cho hoạt động ngoại thương, chính vì vậy, trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động TTQT thành hai lĩnh vực là: Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch) và Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 Thanh toán trong ngoại thương (thanh toán mậu dịch): là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa XNK và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế. Cơ sở để các bên tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương. Thanh toán phi ngoại thương (thanh toán phi mậu dịch): là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hóa XNK, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại.
Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp cho người thân ở nước ngoài, chi phí học tập, chữa bệnh cho người thân hoặc bản thân,… 1. Các phƣơng thức TTQT chủ yếu tại các ngân hàng Trong TTQT, người thụ hưởng và người thanh toán thường ở hai quốc gia khác nhau, không thể thanh toán trực tiếp cho nhau mà phải thông qua hệ thống NH. "Toàn bộ những điều kiện và cách thức để ngân hàng tiến hành chuyển tiền giữa người thanh toán và người thụ hưởng gọi là phương thức TTQT" (Trần Hoàng Ngân, 2001, trang 122). TTQT thường là hệ quả của hợp đồng ngoại thương, do đó ta còn có khái niệm: "Phương thức TTQT là cách thức thực hiện chi trả một hợp đồng xuất nhập khẩu thông qua trung gian ngân hàng bằng cách trích tiền từ tài khoản của nhà nhập khẩu và chuyển vào tài khoản của nhà xuất khẩu căn cứ vào các điều kiện trong hợp đồng ngoại thương và chứng từ thương mại do hai bên cung cấp" (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 314).
Các phương thức thanh toán cơ bản và phổ biến thường được sử dụng là: 1. Phương thức chuyển tiền Khái niệm: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 “Phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán đơn giản nhất, trong đó một khách hàng (người chuyển tiền, người mua, người nhập khẩu…) yêu cầu NH phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng (người nhận tiền, người bán, người xuất khẩu) ở một địa điểm xác định và trong một thời gian nhất định” (Trần Hoàng Ngân, 2001, trang 122). Hình thức chuyển tiền: Phương thức chuyển tiền có thể thực hiện bằng 2 hình thức chủ yếu sau đây: - Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic transfer – TT): ngân hàng thực hiện chuyển tiền bằng cách gởi điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người thụ hưởng. Hình thức này thường được áp dụng trong chuyển tiền mậu dịch (chuyển tiền trả trước hoặc trả sau) và chuyển tiền một chiều (chuyển tiền du học, trợ cấp và các mục đích khác theo quy định NHNN hiện hành).
- Chuyển tiền bằng thư (Mail transfer – MT): ngân hàng thực hiện chuyển tiền thông qua việc phát hành Bank draft. Hình thức này thường được áp dụng trong chuyển tiền thanh toán lệ phí thi, phí xem xét hồ sơ nhập học,… Trong hai hình thức trên thì hình thức chuyển tiền bằng điện được sử dụng phổ biến hơn. Quy trình thực hiện: (3) Ngân hàng trả tiền Ngân hàng chuyển tiền (Paying Bank) (Remitting Bank) (4) (2) Người hưởng lợi (1) Người chuyển tiền (Beneficiary) (Remitter) Sơ đồ 1.1: Quy trình thanh toán chuyển tiền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Chú thích: (1). Ký kết hợp đồng ngoại thương thỏa thuận phương thức thanh toán chuyển tiền.
Người chuyển tiền yêu cầu ngân hàng nước mình chuyển một số tiền nhất định cho người thụ hưởng ở nước ngoài. Ngân hàng phục vụ người chuyển tiền thực hiện theo yêu cầu chuyển tiền ra nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài nhận tiền chuyển đến, thực hiện trả cho người thụ hưởng. Ƣu, nhƣợc điểm và điều kiện vận dụng: Trong phương thức chuyển tiền, NH chỉ là trung gian thực hiện chuyển tiền theo yêu cầu của KH và nhận phí dịch vụ chứ không bị ràng buộc gì cả.
Việc giao hàng của bên XK và trả tiền của bên NK hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên. Vì vậy, quyền lợi của người XK khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả sau. Trái lại, quyền lợi của người NK khó đảm bảo nếu chuyển tiền trả trước. Phương thức chuyển tiền có ưu điểm là thủ tục thanh toán đơn giản, thời gian thanh toán nhanh chóng và phí dịch vụ NH thấp so với các phương thức khác.
Bên XK và NK thường áp dụng phương thức này trong trường hợp hai bên mua bán có quan hệ lâu đời và tín nhiệm lẫn nhau hay khi giá trị hợp đồng mua bán không lớn lắm. Khi phát sinh mâu thuẫn quyền lợi hoặc thiếu tín nhiệm lẫn nhau, trong thương lượng hai bên sử dụng phương thức khác thích hợp. Phương thức nhờ thu Khái niệm: “Nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán (nhà xuất khẩu) sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng một dịch vụ cho khách hàng, ủy thác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình bộ chứng từ thông qua ngân hàng thu hộ cho bên mua (nhà nhập khẩu) để được thanh toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác” (Nguyễn Văn Tiến, 2009, trang 340). Các loại nhờ thu: Căn cứ vào nội dung các chứng từ gởi đến ngân hàng nhờ thu mà chia phương thức này thành 2 loại: - Nhờ thu trơn (Clean Collection): Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán, trong đó chứng từ nhờ thu chỉ bao gồm chứng từ tài chính (hối phiếu, kỳ phiếu, séc, giấy nhận nợ hay công cụ thanh toán khác), còn các chứng từ thương mại (chứng từ vận tải, hóa đơn, bảo hiểm,…) được gửi trực tiếp cho người NK, không thông qua NH.
Trong thực tế, nhờ thu trơn hay còn gọi là nhờ thu séc ít được sử dụng trong các giao dịch thanh toán mua bán. - Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collection): Nhờ thu kèm chứng từ là loại nhờ thu dựa vào chứng từ tài chính cùng với chứng từ thương mại hoặc chỉ dựa vào chứng từ thương mại (trong trường hợp này hóa đơn thương mại thay cho hối phiếu). Ngân hàng thu hộ chỉ trao bộ chứng từ cho người NK sau khi người này đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận thanh toán theo yêu cầu của lệnh nhờ thu. Dựa vào điều kiện giao chứng từ, nhờ thu kèm chứng từ có 2 loại sau: + Nhờ thu thanh toán đổi chứng từ (Documents against payment – D/P).
+ Nhờ thu chấp nhận đổi chứng từ (Documents against acceptance– D/A). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Quy trình thực hiện: (4) Ngân hàng nhờ thu Ngân hàng thu hộ (Remitting Bank) (Collecting Bank) (8) (3) (9) (7) (6) (5) (1) Nhà xuất khẩu Nhà nhập khẩu (Exporter/Drawer) (Importer/Drawee) (2) Sơ đồ 1.2: Quy trình thanh toán nhờ thu Chú thích: (1). Ký kết hợp đồng mua bán thỏa thuận phương thức nhờ thu. Nhà XK giao hàng cho nhà NK theo quy định của hợp đồng.
Nhà XK gửi toàn bộ chứng từ (hoặc chứng từ tài chính đối với nhờ thu trơn) tới NH phục vụ mình để nhờ thu. NH nhờ thu gửi toàn bộ chứng từ (hoặc chứng từ tài chính đối với nhờ thu trơn) đến NH thu hộ. NH thu hộ thông báo cho nhà NK. Nhà NK tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
NH thu hộ trao bộ chứng từ hàng hóa để nhà NK đi nhận hàng (nhờ thu trơn không thực hiện bước này). NH thu hộ thanh toán hoặc thông báo việc chấp nhận thanh toán đến ngân hàng nhờ thu. NH nhờ thu thanh toán hoặc thông báo việc chấp nhận thanh toán cho nhà XK. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Ƣu, nhƣợc điểm và điều kiện vận dụng: Trong phương thức nhờ thu, NH chỉ là trung gian thu hộ thực hiện theo yêu cầu của KH và nhận phí dịch vụ.
Đối với phương thức thanh toán theo D/P, NH sẽ chịu trách nhiệm đảm bảo đủ tiền thanh toán trước khi giao chứng từ cho nhà NK. Đối với phương thức thanh toán theo D/A, việc thanh toán hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng và thiện chí của bên NK. Nhìn chung, Phương thức nhờ thu an toàn hơn phương thức chuyển tiền nhưng phí dịch vụ NH cao hơn so với phương thức chuyển tiền.