CHƯƠNG 1 Trên đây là những nhận biết tổng quát về thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế. Trong chương này, tác giả đã tiến hành làm rõ các khái niệm liên quan đến TTKDTM, vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế, những nguyên tắc TTKDTM, các phương thức TTKDTM phổ biến cũng như các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của TTKDTM trong dân cư của một quốc gia. Đồng thời, tác giả đem lại cho người đọc cái nhìn tổng quan về tình hình TTKDTM trên thế giới cũng như tại một số quốc gia tiêu biểu. Các xu hướng ứng dụng các thanh tựu của Cách mạng Công nghệ 4.0 vào lĩnh vực thanh toán cũng được nêu lên trong chương này, từ đó phần nào gợi mở hướng đi cho TTKDTM của Việt Nam trong thời gian tới.
Từ những lý thuyết tổng quan này, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu và đưa ra đánh giá về thực trạng áp dụng chúng trong thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam hiện nay tại chương kế tiếp đây. 23 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT TRONG DÂN CƯ TẠI VIỆT NAM 2. Bối cảnh triển khai thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam 2. Những quy định, chính sách về phát triển thanh toán không dùng tiền mặt.
Nhận rõ vai trò của TTKDTM, NHNN Việt Nam nói riêng, Chính Phủ nói chung đã sớm đưa ra các biện pháp thúc đẩy TTKDTM trong nước. Những quy định và chính sách của Chính phủ Nghị định 91/CP ban hành ngày 25 tháng 11 năm 1993 về “Tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt” : Nghị định này đề cập đến các tổ chức được phép cung ứng dịch vụ thanh toán; nguyên tắc chi trả tiền mặt và chuyển khoản cũng như các quyền, nghĩa vụ của các bên khi giao dịch thanh toán. Nghị định 64/2001/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 9 năm 2001 về “hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán”, thay thế Nghị định91/CP: Tại Nghị định này, các tổ chức CƯDVTT được mở rộng hơn so với Nghị định 91/CP; đồng thời, các khái niệm và các quy chế liên quan đến hoạt động thanh toán cũng được bổ sung và làm rõ trong Nghị định 64/2001/NĐ-CP. Nghị định 101/2012/NĐ-CP ban hành ngày 22 tháng 11 năm 2012 về “Thanh toán không dùng tiền mặt” thay thế Nghị định 64/2001/NĐ-CP: Với Nghị định này, các vấn đề tại Nghị định 64/2001/NĐ-CP được quy định chặt chẽ và thích hợp với tình hình đổi mới hơn, đồng thời bổ sung thêm các quy định về thanh toán bằng ngoại tệ và thanh toán quốc tế, phù hợp với nhu cầu hội nhập toàn cầu.
Quyết định 2545/QĐ-TTg ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 về “Phê duyệt đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020”: Quyết định này đã nêu ra những mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu cụ thể để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2016-2020 đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể để biến những mục tiêu ấy thành sự thật. Công văn số 6477/VPCP-KTTH ban hành ngày 22 tháng 7 năm 2019 về việc “công khai chi tiết danh mục các giao dịch bắt buộc thanh toán qua ngân hàng”: Trong công văn này, có 13 lĩnh vực thuộc 6 nhóm lĩnh vực chính được quy định bắt buộc thanh toán qua ngân hàng, 6 nhóm lĩnh vực này bao gồm: chứng khoán, thu chi ngân sách nhà nước, thuế, tài chính doanh nghiệp; giải ngân vốn vay của TCTD, chi 24 nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; hoạt động của tổ chức sử dụng vốn nhà nước. Quyết định 645/QĐ-TTg ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2020 về “Phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển thương mại điện tử quốc gia giai đoạn 2021-2025”: Đề án này đưa ra các mục tiêu, biện pháp cụ thể, phân công trách nhiệm cho từng cơ quan có liên quan nhằm đẩy mạnh TMĐT tại Việt Nam, trong đó có mục tiêu tăng tỷ lệ TTKDTM trong TMĐT. Quyết định số 241/QĐ-TTg ban hành ngày 23 tháng 2 năm 2018 về “phê duyệt đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng với dịch vụ công: Thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội…” Quyết định 986/QĐ-TTg ban hành ngày 08 tháng 08 năm 2018 “về việc phê duyệt chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2020”: xây dựng các mục tiêu phát triển ngành ngân hàng, trong đó TTKDTM được định hướng đẩy mạnh phát triển với mục tiêu tỷ trọng tiền mặt trong tổng phương tiện thanh toán nước ta chiếm dưới 10% vào cuối năm 2020 và đến cuối năm 2025 giảm còn 8%.
Chính sách và quy định của Ngân hàng nhà nước Thông tư 46/2014/TT-NHNN ban hành ngày 31/12/2014 “hướng dẫn về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt”: Trong thông tư này, các quy trình thực hiện các dịch vụ TTKDTM được hướng dẫn một cách chi tiết; quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia dịch vụ TTKDTM cũng được quy định rõ trong thông tư. Thông tư số 39/2014/TT-NHNN ngày 11/12/2014 “hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán” và Thông tư 23/2019/TT-NHNN sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-NHNN: Các thông tư này hướng dẫn về dịch vụ TGTT đối với các cá nhân, tổ chức có liên quan đến hoạt động cung ứng và sử dụng dịch vụ TGTT. Chỉ thị số 01/CT-NHNN ban hành ngày 03 tháng 01 năm 2020 về “tổ chức thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2020”: trong chỉ thị này NHNN có đặt mục tiêu chung cho ngành ngân hàng “Đẩy mạnh thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là thanh toán qua ngân hàng với các dịch vụ công; đảm bảo hệ thống thanh toán, hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán ổn định, an toàn và hiệu quả”. Tình hình kinh tế- văn hóa- xã hội ở Việt Nam và những tác động đến thanh toán không dùng tiền mặt.
Bất kỳ loại hình dịch vụ nào khi du nhập vào một quốc gia đều chịu sự ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế - văn hóa – xã hội ở quốc gia đó, TTKDTM ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật, do đó muốn tìm hiểu về TTKDTM ở Việt Nam, trước tiên ta cần đi tìm hiểu những diễn biến kinh tế- văn hóa- xã hội ở nước ta và những tác động của nó đến sự phát triển của dịch vụ TTKDTM. Môi trường kinh tế - Thu nhập Thu nhập bình quân đầu người ở nước ta những năm qua tăng cả về quy mô lẫn tốc độ. Theo Tổng cục thống kê, thu nhập bình quân đầu người của nước ta năm 2016 đạt 3.098 nghìn đồng tăng 461 nghìn đồng tương ứng với 17.48% so với mức thu nhập trung bình của người dân năm 2014, sang đến năm 2018, thu nhập bình quân đầu người ở nước ta tiếp tục tăng mạnh gấp 125.11% so với năm 2016 và đạt 3. Sự tăng trưởng của thu nhập bình quân đầu người tạo là động lực khiến cho người tiêu dùng chi tiêu nhiều hơn, từ đó có nhiều khả năng sử dụng dịch vụ TTKDTM hơn.
- Chi tiêu Giai đoạn 2008-2018 chi tiêu bình quân của người dân trên cả nước, dù là ở thành thị hay nông thôn đều đang trong khuynh hướng tăng. Giai đoạn 2008-2012, khủng hoảng kinh tế toàn cầu kết hợp với những khó khăn khi mới gia nhập WTO khiến lạm phát ở Việt Nam tăng mạnh kéo theo chi tiêu bình quân đầu người cũng tăng mạnh trong giai đoạn này, năm 2012 mức chi tiêu bình quân đầu người trên cả nước gấp 202% so với 2008, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị và nông thôn lần lượt là 184% và 213%. Từ sau giai đoạn này, nhờ những chính sách kiềm chế lạm phát, mức tăng của chi tiêu cũng trở nên ổn định hơn.000 - Năm 2008 Năm 2010 Năm 2012 Năm 2014 Năm 2016 Năm 2018 Cả nướ c Thành thị Nông thôn Biểu đồ 2.1: Chi tiêu bình quân đầu người phân theo khu vực giai đoạn 2012-2018 Nguồn: Tổng cục thống kê Việc chi tiêu nhiều hơn thúc đẩy người ta nghĩ đến việc sử dụng đồng tiền một cách hiệu quả, an toàn và mất ít thời gian hơn, TTKDTM cũng nhờ đó mà có cơ hội phát triển. Tuy nhiên, khoảng cách về thu nhập cũng như chi tiêu bình quân đầu người giữa nông thôn và thành thị vẫn còn khá lớn.
Trong khi ở thành thị, người dân có thu nhập cao hơn mức bình quân cả nước cũng như chi tiêu nhiều hơn mức trung bình, thì ở nông thôn, thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người dù có tăng qua từng năm nhưng vẫn luôn ở mức thấp hơn bình quân cả nước. Sự cách biệt này cộng với việc thiếu đồng bộ về hạ tầng thanh toán giữa thành thị và nông thôn càng khiến cho TTKDTM gặp nhiều trở ngại khi tiếp cận với người dân nông thôn. Các yếu tố thuộc về dân cư 27 - Kết cấu dân cư (đơn vị: %) Dướ i độ tuổ i lao độ ng 15-24 tu ổi Từ 25-49 tuổ i Ngoài 50 tu ổi 12.2: Phân bổ dân cư theo lứa tuổi tại Việt Nam năm 2019 Nguồn: Tổng cục thống kê Theo thống kê năm 2019, dân số Việt Nam là 96.2 triệu người, là quốc gia đông dân thứ 15 trên thế giới. Phần lớn dân số Việt Nam tập trung ở độ tuổi dưới lao động (39.53%) và độ tuổi từ 25-49 (37%), chỉ có 12.1% dân số ở độ tuổi ngoài 50.
Ta có thể thấy dân số Việt Nam là dân số trẻ và hiện đang đạt tỷ lệ dân số vàng, điều này là một động lực lớn thúc đẩy hiện thực hóa những tiềm năng của TTKDTM ở nước ta khi mà những người trẻ hiện nay thường tiêu dùng nhiều hơn và ưa thích sự đổi mới, sáng tạo, nhanh gọn, đồng thời cũng dễ dàng học hỏi, tiếp thu những thành tựu mới và ứng dụng chúng vào đời sống, đặc biệt là thành tựu trong lĩnh vực thanh toán. - Trình độ dân trí Với những nỗ lực thực hiện chính sách phổ cập giáo dục trong nhiều năm qua của Chính phủ, có thể thấy trình độ dân trí của người dân Việt Nam đang dần được nâng cao, dự đoán, những năm tới tỷ lệ người biết chữ ở Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng tăng. Tỷ lệ người biết chữ nhiều hơn giúp cho việc phổ cập kiến thức nói chung và kiến thức về lĩnh vực TTKDTM nói riêng đến người dân được dễ dàng hơn, đồng thời tạo tiền đề cho việc sử dụng hình thức thanh toán mới mẻ này rộng rãi trong dân chúng.