Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tính đến cuối năm 2019, toàn hệ thống đã phát hành lũy kế hơn 171,3 triệu thẻ ngân hàng, tăng 236% so với năm 2012. Dẫu vậy, phương thức thanh toán tiền mặt vẫn chiếm ưu thế vượt trội trong đời sống xã hội khi có tới 90,17% giao dịch thương mại điện tử lựa chọn hình thức trả tiền khi nhận hàng (COD). Vấn đề nghiên cứu then chốt đặt ra là giải quyết sự bất đối xứng giữa tốc độ hiện đại hóa hạ tầng thanh toán số và thói quen tiêu dùng tiền mặt lâu đời của người dân.

Mục tiêu cụ thể của luận văn nhằm: hệ thống hóa nền tảng lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt; phân tích, đánh giá thực trạng triển khai thanh toán phi tiền mặt trong khu vực dân cư giai đoạn 2017-2020; chỉ ra các thành tựu, nút thắt và nguyên nhân cốt lõi; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp khả thi thúc đẩy thanh toán số phát triển bền vững. Phạm vi nghiên cứu bao quát hành vi tiêu dùng tài chính của hơn 96,2 triệu dân tại Việt Nam, kết hợp khảo sát chuỗi số liệu từ năm 2013 đến nửa đầu năm 2020.

Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp căn cứ khoa học hỗ trợ triển khai Quyết định 2545/QĐ-TTg và Quyết định 241/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu hạ tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán xuống dưới mức 10% vào cuối năm 2020 và nâng tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên có tài khoản ngân hàng lên trên 70%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn kết hợp lý thuyết phương tiện lưu thông tiền tệ hiện đại với lý thuyết tài chính toàn diện (Financial Inclusion) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) để luận giải quá trình chuyển đổi hành vi thanh toán của dân cư. Nghiên cứu chuẩn hóa 4 khái niệm nền tảng: tiền mặt (tiền giấy và tiền kim loại theo Thông tư 33/2017/TT-BTC), dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (căn cứ Nghị định 101/2012/NĐ-CP), dịch vụ trung gian thanh toán (theo Thông tư 39/2014/TT-NHNN và Thông tư 23/2019/TT-NHNN) và thanh toán dịch vụ công.

Mô hình đánh giá phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt được thiết lập dựa trên 4 trụ cột định lượng: mức độ thâm nhập tài khoản ngân hàng, mật độ mạng lưới chấp nhận thanh toán (ATM, POS, QR Code), tỷ trọng tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán (CIC/M2) và mức độ sẵn sàng công nghệ của dân số (với cơ cấu 37% dân số thuộc độ tuổi 25-49 và tỷ lệ biết chữ đạt trên 95%).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả vận dụng phương pháp định tính kết hợp định lượng dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp chuẩn mực từ Ngân hàng Nhà nước, Tổng cục Thống kê, Báo cáo Thanh toán Thế giới (WPR), báo cáo khảo sát của Visa, PwC và Standard Chartered giai đoạn 2011-2020. Cỡ mẫu nghiên cứu bao phủ toàn diện 31 ngân hàng thương mại cổ phần, 4 ngân hàng thương mại nhà nước với hơn 11.300 chi nhánh, phòng giao dịch và 34 tổ chức trung gian thanh toán phi ngân hàng được cấp phép tính đến tháng 5/2020.

Phương pháp chọn mẫu tổng thể (census sampling) đối với các định chế tài chính kết hợp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích từ các báo cáo khảo sát thái độ tiêu dùng (cỡ mẫu từ 135 đến 1.000 khách hàng cá nhân) được sử dụng để bảo đảm tính đại diện cao. Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, so sánh chuỗi thời gian và phân tích tổng hợp quy nạp nhằm bóc tách chính xác xu hướng tăng trưởng của từng kênh thanh toán, đồng thời đối chiếu vị thế cạnh tranh của Việt Nam với 5 quốc gia trong khu vực ASEAN.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, hạ tầng thanh toán kỹ thuật số và phương tiện thanh toán cá nhân ghi nhận tốc độ tăng trưởng vượt bậc. Đến hết năm 2019, số lượng thiết bị chấp nhận thẻ POS/EFTPOS/EDC đạt 277.754 máy, tăng 114% so với năm 2013; số lượng máy ATM đạt xấp xỉ 20.000 thiết bị với mức tăng bình quân 560 máy mỗi năm. Tổng số lượng thẻ phát hành lũy kế đạt 171,3 triệu thẻ, đồng thời toàn ngành ngân hàng đã chuyển đổi thành công hơn 25 triệu thẻ từ sang thẻ chip EMV an toàn theo Thông tư 41/2018/TT-NHNN.

Thứ hai, thanh toán di động bùng nổ mạnh mẽ trong thói quen tiêu dùng hàng ngày. Khảo sát của PwC cho thấy tỷ lệ người tiêu dùng Việt Nam sử dụng thanh toán di động đã tăng vọt từ 37% năm 2017 lên 61% năm 2018 (tăng 24%, tốc độ tăng nhanh nhất Đông Nam Á). Giá trị giao dịch qua kênh điện thoại di động năm 2018 tăng 161% và tiếp tục tăng 210% trong năm 2019.

Thứ ba, thanh toán dịch vụ công ghi nhận những kết quả tích cực bước đầu. Tỷ lệ khách hàng thanh toán tiền điện qua ngân hàng tăng từ 14,88% năm 2015 lên 49,0% năm 2019, riêng TP. Hồ Chí Minh đạt 91,61% và Hà Nội đạt 81,98%. Hơn 75.300 đơn vị hưởng lương ngân sách nhà nước (chiếm 81%) đã thực hiện trả lương qua tài khoản cho hơn 2,45 triệu cán bộ, công chức (chiếm hơn 80%).

Thứ tư, tiền mặt vẫn chi phối nặng nề khu vực nông thôn và bán lẻ. Năm 2017, khoảng 60% dân số nông thôn chưa có tài khoản ngân hàng; tỷ lệ thanh toán COD khi mua sắm trực tuyến lên tới 90,17%, cao hơn rất nhiều so với Indonesia (65,30%) và Singapore (9,93%). Mật độ điểm giao dịch ngân hàng tại nông thôn chỉ đạt 2,2 điểm/khu vực hành chính, thua kém 18 lần so với mức 40 điểm tại khu vực thành thị.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân hóa trên bắt nguồn từ rào cản tâm lý lo ngại rủi ro an ninh mạng (khi có tới hơn 50% người tiêu dùng bày tỏ quan ngại về an toàn giao dịch điện tử), khoảng cách hạ tầng công nghệ vùng miền và sự thiếu đồng bộ giữa phần mềm quản lý tại các bệnh viện, trường học với hệ thống ngân hàng. Khi so sánh quốc tế, tỷ lệ thâm nhập tài khoản ngân hàng của Việt Nam năm 2017 chỉ đạt 30,80%, thấp nhất trong nhóm 6 nước ASEAN (Singapore đạt 97,93%, Thái Lan đạt 81,59%, Malaysia đạt 85,34%).

Để minh họa trực quan các phát hiện học thuật, chuỗi dữ liệu có thể được cấu trúc qua: Biểu đồ cột chồng thể hiện tương quan giữa số lượng thẻ phát hành và lượng giao dịch thực tế qua POS/ATM; Bảng ma trận so sánh 5 chỉ tiêu thanh toán số giữa các nước ASEAN; cùng Biểu đồ đường kép biểu diễn tốc độ tăng trưởng giá trị giao dịch Mobile Banking (tăng 210%) so với Internet Banking. Minh chứng cho sức bật công nghệ, một chuyên gia fintech hàng đầu đã nhận định năm 2020: "2 tháng qua đã bằng 10 năm trước đó", khẳng định làn sóng dịch chuyển số mạnh mẽ dưới tác động của bối cảnh mới.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tạo bước đột phá cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2021-2025, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, hoàn thiện khung khổ pháp lý và cơ chế thử nghiệm có kiểm soát. Ngân hàng Nhà nước cần sớm ban hành quy định chính thức cho dịch vụ tiền di động (Mobile Money), cơ chế định danh điện tử e-KYC và chuẩn kết nối Open API trước quý IV/2021, nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ người dân nông thôn tiếp cận dịch vụ tài chính lên 70% vào năm 2025.

Thứ hai, mở rộng mạng lưới điểm chấp nhận thanh toán số về khu vực nông thôn. Các ngân hàng thương mại cần liên kết với 34 tổ chức trung gian thanh toán triển khai 100.000 điểm quét mã QR Code và thiết bị mPOS chi phí thấp tại các chợ dân sinh, hợp tác xã nông nghiệp trước quý IV/2022.

Thứ ba, chuẩn hóa an ninh bảo mật và duy trì chính sách phí hấp dẫn. Toàn hệ thống ngân hàng thương mại cùng NAPAS cần áp dụng chính sách miễn phí 100% đối với giao dịch chuyển tiền giá trị nhỏ dưới 500.000 đồng, đồng thời hoàn tất chuyển đổi 100% thẻ chip nội địa không tiếp xúc trước ngày 31/12/2021 nhằm triệt tiêu nguy cơ gian lận, sao chép thẻ.

Thứ tư, số hóa toàn diện dịch vụ công và chi trả an sinh xã hội. Các bộ ban ngành liên quan cần liên thông cổng thanh toán quốc gia, nâng tỷ lệ chi trả lương hưu và trợ cấp an sinh xã hội qua tài khoản ngân hàng từ 21% lên tối thiểu 50% vào năm 2023, đồng thời chuẩn hóa 100% cơ sở đại học, bệnh viện tuyến tỉnh thu viện phí, học phí không dùng tiền mặt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1 - Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Sử dụng hệ thống cơ sở thực chứng và các chỉ số so sánh ASEAN để hoạch định chính sách điều hành tiền tệ, hoàn thiện chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025.

Nhóm 2 - Khối Khách hàng cá nhân và Chuyển đổi số tại các Ngân hàng thương mại: Khai thác chuỗi dữ liệu về 171,3 triệu thẻ và đà tăng trưởng 210% của kênh di động để phát triển các gói sản phẩm ngân hàng số, tối ưu hóa tính năng ứng dụng di động cho từng phân khúc khách hàng.

Nhóm 3 - Các công ty Fintech và Doanh nghiệp Thương mại điện tử: Nắm bắt bức tranh thị trường của 154 công ty công nghệ tài chính và giải bài toán chuyển đổi 90,17% đơn hàng COD sang thanh toán ví điện tử, cổng thanh toán trực tuyến.

Nhóm 4 - Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng: Sử dụng khung lý thuyết chuẩn tắc, số liệu thống kê giai đoạn 2013-2020 và các mô hình nghiên cứu định lượng làm tư liệu tham khảo, trích dẫn học thuật cho các công trình nghiên cứu kinh tế số.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao số lượng thẻ ngân hàng phát hành lớn nhưng người dân vẫn chuộng rút tiền mặt tại ATM? Tính đến năm 2019, dù có hơn 171,3 triệu thẻ phát hành, phần lớn giao dịch ATM vẫn là rút tiền mặt do thói quen chi tiêu nhỏ lẻ hàng ngày và hơn 50% người dùng còn lo ngại rủi ro bảo mật tại các điểm chấp nhận thẻ POS.

Thanh toán di động mang lại ưu thế nổi trội nào so với các phương tiện truyền thống? Thanh toán di động cho phép quét mã QR tiện lợi, tích hợp thanh toán hóa đơn đa dịch vụ và đạt mức tăng trưởng giá trị 210% năm 2019, giúp người tiêu dùng giao dịch tức thì mà không phụ thuộc vào hạ tầng POS vật lý đắt đỏ.

Chính phủ Việt Nam đặt ra mục tiêu gì cho việc thanh toán dịch vụ công qua ngân hàng? Theo Quyết định 241/QĐ-TTg, mục tiêu đề ra gồm 80% giao dịch nộp thuế tại đô thị thực hiện qua ngân hàng, 70% tiền điện và 50% tiền nước thanh toán điện tử, cùng 100% trường đại học, cao đẳng thu học phí qua tài khoản.

Đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy sự chuyển dịch thanh toán số tại Việt Nam ra sao? Bối cảnh giãn cách xã hội đã đẩy mạnh thương mại điện tử, giúp kênh ngân hàng số của VPBank tăng 50% số lượng giao dịch, VIB tăng 140% giao dịch trực tuyến và lượng giao dịch qua ví điện tử tăng hơn 100% trong quý I/2020.

Thách thức lớn nhất khi phổ cập thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn là gì? Thách thức lớn nhất nằm ở mạng lưới điểm giao dịch ngân hàng thưa thớt (chỉ 2,2 điểm/khu vực hành chính) cùng tỷ lệ khoảng 60% dân cư nông thôn chưa có tài khoản ngân hàng, khiến tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chi phối.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thanh toán không dùng tiền mặt và xu hướng phát triển ngân hàng số trong kỷ nguyên công nghệ 4.0.
  • Đánh giá xác thực sự bứt phá của thanh toán di động (tăng 24% tỷ lệ người dùng) cùng mạng lưới 171,3 triệu thẻ phát hành, đồng thời nhận diện điểm nghẽn 90,17% giao dịch mua sắm trực tuyến vẫn dùng tiền mặt COD.
  • Phân tích sâu sắc khoảng cách hạ tầng nông thôn - thành thị khi mật độ điểm giao dịch ngân hàng tại nông thôn chỉ bằng 1/18 so với đô thị lớn.
  • Đóng góp 4 nhóm giải pháp thực tiễn gắn với lộ trình hoàn thiện khung pháp lý e-KYC, nâng cấp chuẩn thẻ chip EMV và số hóa thanh toán dịch vụ công đến năm 2025.
  • Thiết lập định hướng phối hợp liên ngành giữa Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại và tổ chức Fintech nhằm hiện thực hóa mục tiêu tài chính toàn diện.

Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và chuyên gia tài chính hãy tham khảo toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận chi tiết các mô hình phân tích và ứng dụng hiệu quả vào chiến lược chuyển đổi số ngành ngân hàng!