Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quỹ hưu trí đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng, ổn định của thị trường tài chính và hỗ trợ an sinh xã hội thông qua việc tập hợp các nguồn vốn dài hạn. Tại nhiều quốc gia phát triển, hệ thống hưu trí công vận hành theo cơ chế thực thanh thực chi (Pay-As-You-Go - PAYG) đang đối mặt với nguy cơ mất cân đối thu - chi nghiêm trọng do tuổi thọ dân số ngày càng tăng cao. Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 với tốc độ già hóa thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, tạo áp lực lớn lên ngân sách nhà nước và sự an toàn tài chính dài hạn của Quỹ Bảo hiểm Xã hội (BHXH).

Trước bối cảnh đó, mô hình hệ thống hưu trí đa trụ cột do Ngân hàng Thế giới (World Bank) khởi xướng từ năm 1994 (gồm 3 trụ cột) và mở rộng năm 2005 (gồm 5 trụ cột) đã trở thành xu hướng cải cách phổ biến tại nhiều nền kinh tế. Trong khi các nước phát triển và một số quốc gia châu Á đã triển khai rộng rãi hệ thống hưu trí nghề nghiệp và hưu trí tự nguyện, Việt Nam chỉ mới bắt đầu thiết lập khung chính sách cho quỹ hưu trí tự nguyện từ năm 2014 và ban hành khung pháp lý cho hưu trí bổ sung tự nguyện năm 2016. Tuy nhiên, số lượng người tham gia các chương trình hưu trí tự nguyện trên thực tế vẫn còn rất hạn chế.

Đề tài khóa luận "Phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam" do sinh viên Bùi Thị Hà Phương thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Xuân Anh tại Học viện Ngân hàng (năm 2018) nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quỹ hưu trí, phân loại các mô hình hưu trí và tổng hợp kinh nghiệm phát triển quỹ hưu trí tại một số quốc gia trên thế giới (Nhật Bản, Hồng Kông, Úc, Hoa Kỳ, Đức, Thái Lan).
  2. Phân tích thực trạng biến đổi dân số, cấu trúc hệ thống bảo hiểm hưu trí và khung pháp lý điều chỉnh quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam giai đoạn 1995–2017.
  3. Đánh giá nguyên nhân khiến quy mô tham gia quỹ hưu trí tự nguyện còn thấp và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy sự phát triển của quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là quỹ hưu trí tự nguyện (bao gồm bảo hiểm hưu trí tự nguyện và quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện). Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào thị trường an sinh xã hội và tài chính Việt Nam trong mối tương quan so sánh với kinh nghiệm quốc tế; phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 1995–2017 cùng các dự báo nhân khẩu học đến năm 2049–2050.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng lý luận về nhà đầu tư có tổ chức (Davis, 1995a) và các hướng dẫn chuẩn mực của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2008) về quản lý quỹ hưu trí. Tác giả vận dụng mô hình hệ thống hưu trí đa tầng của OECD (3 tầng) và mô hình hưu trí 5 trụ cột của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2005):

  • Trụ cột 0: Phúc lợi xã hội phi đóng góp do ngân sách nhà nước chi trả.
  • Trụ cột 1: Hưu trí bảo hiểm xã hội bắt buộc (tính trên mức đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động).
  • Trụ cột 2: Hưu trí nghề nghiệp bắt buộc dựa trên tài khoản cá nhân.
  • Trụ cột 3: Tiết kiệm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện.
  • Trụ cột 4: Các chương trình hỗ trợ phi tài chính của chính phủ (chăm sóc y tế công, nhà ở công).

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả sử dụng làm khung phân tích gồm: Nghị định số 218/CP ngày 27/12/1961, Luật Bảo hiểm xã hội số 71/2006/QH11, Thông tư số 115/2013/TT-BTC, Quyết định số 144/2014/QĐ-TTg ngày 20/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Nghị định số 88/2016/NĐ-CP về chương trình hưu trí bổ sung tự nguyện và Thông tư số 86/2017/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 88/2016/NĐ-CP.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp phương pháp thu thập và xử lý số liệu thống kê mô tả, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu và tổng thuật tài liệu từ các hội thảo chuyên đề. Nguồn dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Tổng cục Thống kê, Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế), Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (VSI), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Liên Hợp Quốc (UN), Towers Watson và các ấn phẩm chuyên ngành tài chính - bảo hiểm.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quỹ hưu trí tự nguyện

Chương này làm rõ định nghĩa quỹ hưu trí là tập hợp tài sản độc lập được hình thành từ đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động nhằm mục đích tài trợ lợi ích hưu trí. Quỹ hưu trí tự nguyện có đặc thù: không được rút tiền trước hạn (trừ trường hợp đặc biệt), tính thanh khoản của chứng chỉ quỹ thấp nhưng được hưởng ưu đãi thuế thu nhập và đóng vai trò như một nhà đầu tư có tổ chức cung cấp nguồn vốn dài hạn cho thị trường chứng khoán.

Loại hình chương trình Cơ chế xác định mức chi trả Chủ thể chịu rủi ro tài chính
Mức đóng xác định (DC) Số tiền đóng góp thực tế cộng với lợi nhuận đầu tư từ tài khoản cá nhân. Người lao động (người tham gia)
Mức hưởng xác định (DB) Tính theo công thức định sẵn dựa trên thâm niên làm việc và mức lương cuối cùng. Đơn vị cung cấp / Doanh nghiệp / Nhà nước
Tài khoản cá nhân ước tính (NDC) Phần đóng góp cộng với lợi nhuận tính theo tỷ lệ lãi suất do tổ chức điều hành quy định. Đơn vị cung cấp / Nhà nước

Tác giả phân tích mô hình vận hành Quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện (HTBSTN) đầu tiên tại Việt Nam dựa trên sự liên kết 3 bên: Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (VSD) quản lý tài khoản cá nhân, Công ty Cổ phần Quản lý Quỹ Đầu tư Việt Nam (VFM) quản lý danh mục đầu tư, và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) làm ngân hàng giám sát. Quy định quản trị rủi ro buộc quỹ phải đầu tư tối thiểu 50% tổng tài sản vào trái phiếu chính phủ (TPCP) hoặc chứng chỉ quỹ TPCP, 50% còn lại đầu tư vào chứng chỉ quỹ mở, không được đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu niêm yết. Chế độ báo cáo định kỳ bao gồm: báo cáo hoạt động quản lý quỹ và báo cáo quản trị rủi ro/kiểm soát nội bộ (hàng năm, trong 3 tháng sau kết thúc năm tài chính), báo cáo tài sản và báo cáo hoạt động đầu tư (hàng quý, trong vòng 20 ngày sau khi kết thúc quý).

Kinh nghiệm quốc tế được tổng thuật qua các mô hình:

  • Nhật Bản: Khởi đầu từ bảo hiểm hưu trí nhân viên (EPI) năm 1944; các chương trình DB chiếm 98% tổng tài sản hưu trí năm 2012; triển khai hưu trí DC từ năm 2001; tỷ lệ thay thế bình quân đạt 41,4%.
  • Hồng Kông: Thiết lập chương trình tự nguyện ORSO năm 1993 và chương trình bắt buộc MPF năm 2000; nâng tỷ lệ lao động tham gia hưu trí từ 33% (năm 2000) lên 84% (năm 2014), tỷ lệ thay thế đạt 41%.
  • Úc: Vận hành hệ thống Superannuation bắt buộc với tỷ lệ bao phủ trên 90% lực lượng lao động; kết hợp tài khoản tiết kiệm hưu trí (RSAs) và quỹ tự quản (SMSFs); tỷ lệ thay thế đạt 65,9%, lợi tức hưu trí chiếm 63% tổng thu nhập người già.
  • Hoa Kỳ, Đức, Thái Lan: Xây dựng cơ chế hưu trí đa nguồn (Mỹ áp dụng đóng góp 12,4% lương chia đều cho hai bên, tài khoản IRA và 401k; Đức có 50% lao động tham gia hưu trí bổ sung doanh nghiệp; Thái Lan có hưu trí cơ bản chiếm 60% và bổ sung chiếm 20% thu nhập).

Chương 2: Thực trạng phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam

Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử từ Nghị định 218/CP (1961) quản lý theo cơ chế DB-PAYG cho công nhân viên chức nhà nước, thành lập BHXH Việt Nam (1995), đến khi Luật BHXH 2006 có hiệu lực (2007 cho bắt buộc, 2008 cho tự nguyện). Hệ thống hưu trí Việt Nam hiện tại về cơ bản vẫn mang tính chất đơn tầng, phụ thuộc hoàn toàn vào Trụ cột 1 (BHXH bắt buộc).

Áp lực nhân khẩu học được minh chứng qua các số liệu:

  • Thời gian chuyển đổi từ giai đoạn già hóa (nhóm 60+ tuổi chiếm 10%) sang dân số già (nhóm 60+ tuổi chiếm 20%) của Việt Nam ước tính chỉ mất 22 năm, nhanh hơn nhiều so với Pháp (100 năm), Thụy Điển (85 năm), Úc (73 năm), Hoa Kỳ (69 năm) và Canada (65 năm).
  • Tuổi thọ bình quân tăng từ 72,2 tuổi (năm 2005) lên 73,4 tuổi (năm 2015–2016) và dự báo đạt 80,4 tuổi vào năm 2050 (nam: 78,2 tuổi; nữ: 82,5 tuổi).
  • Tỷ trọng dân số từ 65 tuổi trở lên đạt 6,8% năm 2009, dự báo tăng lên 10% năm 2020 và 24% năm 2050. Chỉ số già hóa tăng từ 35,5% (năm 2009) lên 41,1% (năm 2011) và 43,3% (năm 2014).
  • 70% người cao tuổi không có tích lũy vật chất, chỉ 30% sống bằng lương hưu/trợ cấp, trong khi 95% mắc các bệnh mãn tính.

Về khung pháp lý, Quyết định 144/2014/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2020 có 400–500 doanh nghiệp với khoảng 10.000 người tham gia quỹ hưu trí tự nguyện, doanh số tích lũy đạt khoảng 10.000 tỷ đồng. Thị trường ghi nhận các sản phẩm hưu trí tự nguyện thương mại từ các doanh nghiệp bảo hiểm như Sun Life Việt Nam, Manulife (Điểm Tựa Hưu Trí), Bảo Việt Nhân thọ (An Hưởng Điền Viên) và Dai-ichi Life (An Nhàn Hưu Trí).

Chỉ tiêu thống kê Số liệu ghi nhận trong văn bản
Tổng số người tham gia BHXH (năm 2017) 13,9 triệu người (Bắt buộc: 13,6 triệu; Tự nguyện: 0,3 triệu)
Số người tham gia BHXH tự nguyện 6.110 (2008) $\rightarrow$ 203.560 (2016) $\rightarrow$ 235.000 (3/2017) $\rightarrow$ 291.000 (cuối 2017)
Tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện Khoảng 0,5% trên tổng số 35 triệu lao động khu vực phi chính thức
Tỷ lệ người đóng / người hưởng lương hưu 217 : 1 (năm 1996) $\rightarrow$ 9,9 : 1 (năm 2012) $\rightarrow$ 2 : 1 (năm 2017–2018)
Tuổi nghỉ hưu thực tế bình quân 55,6 tuổi (Nam) và 52,6 tuổi (Nữ)
Thời gian tích lũy vs Thời gian hưởng lương hưu Đóng 31 năm chỉ đủ trả lương hưu gần 13 năm; thời gian hưởng bình quân là 24,1 năm
Dự báo cân đối tài chính của ILO Năm 2021 thu trong năm chỉ đủ chi; năm 2034 quỹ dự trữ cạn kiệt

Nguyên nhân hạn chế được chỉ ra gồm:

  1. Mức ưu đãi thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp khi đóng góp vào quỹ HTBSTN (1 triệu đồng/người/tháng theo quy định hiện hành) chưa đủ hấp dẫn để thu hút người tham gia; chưa có hướng dẫn thuế khi rút tiền chi trả.
  2. Chi phí đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin vận hành quỹ cao (lên tới vài triệu USD).
  3. Nhận thức của người lao động còn thấp: Khảo sát của ILSSA và ILO (năm 2017) tại Hà Nội và Nghệ An cho thấy 41,1% lao động phi chính thức chưa biết đến BHXH tự nguyện, 20,6% mới biết tên, 25% biết sơ qua và chỉ 13,2% hiểu rõ thủ tục, mức đóng/hưởng. Khảo sát của Viện LIGHT ghi nhận 91% người bán hàng rong không biết Bộ luật Lao động và 91,45% chưa biết BHXH.
  4. Tâm lý người dân so sánh bất lợi khi tham gia BHXH tự nguyện phải chịu mức đóng 22% nhưng chỉ hưởng 2 chế độ (hưu trí, tử tuất), trong khi BHXH bắt buộc người lao động chỉ đóng 8% nhưng hưởng trọn vẹn 5 chế độ.

Chương 3: Giải pháp tăng cường phát triển quỹ hưu trí tự nguyện tại Việt Nam

Chương 3 khẳng định sự cần thiết phải chuyển dịch sang hệ thống hưu trí đa tầng theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, cải thiện mức lương hưu bình quân (hiện chỉ hơn 3 triệu đồng/tháng), giữ chân nhân tài tại doanh nghiệp (chuẩn hóa các quỹ hưu trí tự phát như tại Unilever, Nestle, Dutch Lady) và hội nhập với các nước APEC.

Các nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất bao gồm:

  • Cải cách cấu trúc và quy định tham gia BHXH: Xây dựng mô hình 3 tầng (Lương hưu xã hội $\rightarrow$ BHXH cơ bản $\rightarrow$ Bảo hiểm hưu trí bổ sung). Sửa đổi giảm thời gian đóng tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống còn 5–10 năm gắn với nguyên tắc đóng - hưởng; nâng tuổi nghỉ hưu bình quân để phù hợp với tuổi thọ; đẩy nhanh chuyển dịch lao động phi chính thức sang khu vực chính thức.
  • Hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính và chế tài: Nghiên cứu nâng mức trần ưu đãi thuế khấu trừ; thiết lập chính sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí đóng BHXH tự nguyện cho lao động thu nhập thấp, việc làm bấp bênh; tăng thẩm quyền xử phạt trốn nợ đóng BHXH cho cơ quan quản lý quỹ và bỏ quy định Công đoàn khởi kiện nợ BHXH do hoạt động kém hiệu quả.
  • Cải tiến quy trình vận hành và công nghệ: Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thu nộp, tiếp nhận hồ sơ điện tử; mở rộng mạng lưới đại lý thu tại địa phương để tạo thuận lợi giao dịch cho người lao động.
  • Đổi mới công tác thông tin - truyền thông: Đa dạng hóa hình thức truyền thông qua tin nhắn điện thoại, mạng xã hội và các đoàn thể nhằm tiếp cận nhóm lao động tự do, lao động di cư.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa số liệu thực chứng: Khóa luận đã tập hợp chuỗi dữ liệu thực tế về nhân khẩu học và an sinh xã hội tại Việt Nam, chỉ ra sự suy giảm mạnh mẽ của tỷ lệ hỗ trợ người hưởng lương hưu (từ 217:1 năm 1996 xuống còn 2:1) và nguy cơ cạn kiệt quỹ dự trữ hưu trí vào năm 2034 theo dự báo của ILO.
  • Làm rõ mô hình thể chế mới: Phân tích chi tiết quy trình pháp lý và kỹ thuật vận hành quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP và Thông tư 86/2017/TT-BTC, xác lập cơ chế phối hợp giữa công ty quản lý quỹ (VFM), cơ quan lưu ký (VSD) và ngân hàng giám sát (BIDV).
  • Hệ thống giải pháp đa chiều: Đề xuất đồng bộ các giải pháp từ cấp độ chính sách vĩ mô (thuế, tuổi nghỉ hưu, giảm thời gian đóng tối thiểu xuống 5–10 năm, hỗ trợ mức đóng cho lao động nghèo) đến giải pháp quản trị vi mô (công nghệ, đại lý thu, truyền thông di động).
  • Đóng góp học thuật: Đề tài đã gắn kết lý luận hưu trí đa trụ cột của Ngân hàng Thế giới với thực tiễn chuyển đổi thể chế an sinh xã hội tại Việt Nam, cung cấp góc nhìn kinh tế tài chính về vai trò cung ứng vốn dài hạn của quỹ hưu trí.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do mô hình quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện tại thời điểm tác giả thực hiện khóa luận (2018) mới trong giai đoạn thí điểm ban đầu theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP, nguồn dữ liệu vận hành thực tế của các quỹ hưu trí doanh nghiệp còn hạn chế; các phân tích thực trạng chủ yếu căn cứ trên dữ liệu BHXH tự nguyện công lập và các sản phẩm niên kim bảo hiểm nhân thọ thương mại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả sinh lời và chi phí vận hành thực tế của các quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện sau thời gian hoạt động; thực hiện khảo sát thực nghiệm định lượng về mức độ nhạy cảm của doanh nghiệp và người lao động đối với các mức trần khấu trừ thuế khác nhau.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Bảo hiểm, An sinh xã hội và Kinh tế phát triển khi nghiên cứu về cải cách hưu trí. Các cơ quan quản lý nhà nước, công ty quản lý quỹ và doanh nghiệp bảo hiểm có thể tham khảo bảng so sánh mô hình DC/DB/NDC, quy định đầu tư an toàn theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP và kinh nghiệm vận hành hệ thống hưu trí tại Nhật Bản, Hồng Kông, Úc để thiết kế sản phẩm hưu trí phù hợp.


Câu hỏi thường gặp

1. Danh mục đầu tư của Quỹ hưu trí bổ sung tự nguyện tại Việt Nam bị giới hạn như thế nào theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP? Theo quy định, quỹ bắt buộc phải đầu tư tối thiểu 50% tổng giá trị tài sản vào trái phiếu chính phủ hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư trái phiếu chính phủ. Phần còn lại (tối đa 50%) được đầu tư vào các chứng chỉ quỹ mở; quỹ không được phép đầu tư trực tiếp vào cổ phiếu trên thị trường chứng khoán.

2. Tốc độ già hóa dân số của Việt Nam diễn ra nhanh như thế nào so với các nước phát triển? Việt Nam chuyển từ giai đoạn già hóa dân số (nhóm 60+ tuổi chiếm 10%) sang dân số già (nhóm 60+ tuổi chiếm 20%) chỉ trong khoảng 22 năm. Trong khi đó, quá trình này ở Úc mất 73 năm, Hoa Kỳ mất 69 năm, Canada mất 65 năm, Thụy Điển mất 85 năm và Pháp mất 100 năm.

3. Theo tính toán trong văn bản, thời gian đóng góp và thời gian hưởng lương hưu thực tế của người lao động Việt Nam có sự chênh lệch ra sao? Người lao động có trung bình 31 năm đóng BHXH, số tiền tích lũy này chỉ đủ để chi trả lương hưu trong vòng gần 13 năm. Tuy nhiên, thời gian hưởng lương hưu bình quân thực tế hiện nay lên tới 24,1 năm do tuổi nghỉ hưu thực tế thấp (nam 55,6 tuổi; nữ 52,6 tuổi) và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng.

4. Khảo sát của ILSSA và ILO năm 2017 phản ánh nhận thức của lao động phi chính thức về BHXH tự nguyện như thế nào? Kết quả khảo sát tại Hà Nội và Nghệ An cho thấy có 41,1% lao động phi chính thức chưa hoặc không biết đến chính sách BHXH tự nguyện; 20,6% mới chỉ biết tên chính sách; 25% biết sơ qua và chỉ có 13,2% hiểu rõ thủ tục, mức đóng và mức hưởng.

5. Tác giả đề xuất sửa đổi điều kiện thời gian đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu như thế nào? Tác giả đề xuất sửa đổi quy định thời gian đóng tối thiểu để được nhận lương hưu giảm từ 20 năm xuống còn 5–10 năm, kết hợp điều chỉnh công thức tính lương hưu theo nguyên tắc công bằng, đóng - hưởng nhằm tăng diện bao phủ an sinh xã hội.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Thị Hà Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mô hình hưu trí đa trụ cột và phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng an sinh xã hội tại Việt Nam trước áp lực già hóa dân số. Nghiên cứu chỉ ra những rào cản cốt lõi về chính sách thuế, nhận thức xã hội và hạ tầng kỹ thuật khiến tỷ lệ tham gia hưu trí tự nguyện còn thấp, đồng thời phân tích chi tiết cơ chế vận hành Quỹ HTBSTN theo Nghị định 88/2016/NĐ-CP. Các đề xuất chuyển đổi hệ thống sang mô hình đa tầng, linh hoạt thời gian đóng và nâng mức khuyến khích thuế mang lại giá trị thực tiễn cao cho tiến trình cải cách chính sách an sinh xã hội tại Việt Nam.