phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày theo 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng giai đoạn 2006-2014 Chƣơng 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030 5 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Về phát triển nguồn nhân lực nói chung 1.1 Các tác giả nước ngoài Nolwen Henaff, Jean Yves Martin (2001), Labour, employment and human resources in Viet Nam after 15 years of renovation (Lao động, việc làm và nguồn nhân lực Việt nam sau 15 năm đổi mới) Nxb Thế giới, Hà Nội. Các tác giả đã phân tích tình trạng lao động, việc làm và thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam sau 15 năm đổi mới. Điều này giúp cho ngƣời đọc thấy đƣợc thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt nam là một điều rất cần thiết trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. [26] John Bernardin (2007), Human resource management (Quản lý nguồn nhân lực) Nxb McGraw-hill, Boston, tác giả đã nêu ra cách thức quản lý và sử dụng nguồn lực con ngƣời, phân tích về các nghề nghiệp, đƣa ra các kế hoạch và cách thức tuyển dụng nguồn nhân lực.
Hơn nữa tác giả chỉ ra các lý do nhằm phát triển nghề nghiệp đối với ngƣời lao động và cách thu hút nguồn lực lao động cho quốc gia. Cuối cùng thông qua 16 chƣơng của cuốn sách tác giả đã nêu ra vai trò và cách thức để sử dụng nguồn nhân lực một cách an toàn và hợp lý. Prescott và Maria W. Taylor, Vũ Thanh Vân dịch (2010), Human resources transformation (Chuyển hóa nguồn nhân lực), Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.
Cuốn sách lấy vấn đề chuyển đổi nhân sự làm trung tâm, nó lột tả, khám phá và khắc họa chính xác vai trò, nhiệm vụ của nhân sự trong hơn thập kỉ qua và đƣa ra dự đoán các xu hƣớng mới trong tƣơng lai. Các tác giả đã dành riêng hai phần đầu trong cuốn sách để dẫn dắt ngƣời đọc làm quen với khái niệm chuyển đổi nhân sự thông qua cái nhìn toàn cảnh trong quá khứ, các yếu tố tác động hiện tại, tiền đề của sự đổi mới và xu hƣớng hình thái cấp tiến của nhân sự 6 z hiện đại. Qua đó, ngành nhân sự nhƣ đƣợc thoát khỏi cái bóng thầm lặng, thụ động trong thành công của tổ chức.Từ đó ngƣời đọc sẽ rút ra cho mình những kinh nghiệm, bài học và cách thức thực hiện chuyển đổi nhân sự phù hợp nhất với bối cảnh hiện tại. Ngoài ra, trong phần phụ lục, các tác giả còn đƣa ra bài nghiên cứu thực tế dựa trên các ý kiến, quan điểm của các nhà quản lý trong việc áp dụng chuyển đổi nhân sự.
Cùng với đó là Bảng khảo sát dành cho độc giả nhằm xác định, đánh giá mức độ ƣu thế nhân sự trong doanh nghiệp để ngay lập tức có thể đề ra chiến lƣợc và phƣơng hƣớng hành động cho bản thân trong việc chuyển đổi nhân sự có tác động rất lớn đối với quá trình sử dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực.2 Các tác giả trong nước PGS. Mai Quốc Chánh chủ biên (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực nƣớc ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nƣớc. Bùi Thị Ngọc Lan (2002) Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò, chức năng của nguồn lực trí tuệ -bộ phận trung tâm, làm nên chất lƣợng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại. Trên cơ sở đó, tác giả đƣa ra những phƣơng hƣớng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tác giả nêu ra “Sự nghiệp CNH, HĐH đất nƣớc đang đặt ra cho nƣớc ta những yêu cầu mới về nguồn nhân lực chất lƣợng cao, nghĩa là nguồn nhân lực đƣợc đào tạo có kỹ năng lao động, làm việc có kỹ thuật, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến. Trong điều kiện hội nhập, mở cửa thị tƣờng, Việt Nam chủ trƣơng CNH rút ngắn thời gian gắn với phát triển kinh tế tri thức thì yêu cầu lại càng nhiều hơn về số lƣợng, nâng cao về chất lƣợng đối với nhân lực để có thể nâng cao năng suất lao 7 z động xã hội, sớm đƣa đất nƣớc thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các tầng lớp lao động nhƣ nông dân, công nhân, tri thức.[21] Một yêu cầu của CNH, HĐH là nguồn nhân lực phải có sức khỏe và tiếp thu nhanh kiến thức khoa học, công nghệ mới, có kỹ năng làm việc trong môi trƣờng công nghệ, kỹ thuật ngày càng đổi mới và phát triển.
Do vậy phát triển nhân lực phải tập trung vào thế hệ trẻ. Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đẩy mạnh CNH, hội nhập thì giáo dục, đào tạo phải làm sao để thanh niên, thế hệ trẻ trở thành đội quân xung kích đi vào khoa học công nghệ mới. Tuy lực lƣợng lao động trẻ nƣớc ta đƣợc xếp vào hạng quốc gia có trình độ học vấn khá, có nhiều học sinh, sinh viên thông minh đạt giải quốc tế, nhƣng lại thiếu những nhà kỹ nghệ trẻ tài năng, những doanh nhân, nhà doanh nghiệp trẻ có tài và những lao động tinh thông công nghệ mới”. TS Trần Anh Phƣơng (2011) Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các khu kinh tế biển đảo giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9.
Tác giả cho rằng việc quan trọng trƣớc hết chúng ta cần làm ngay, đó là đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển qui mô dân số hợp lý, nâng cao chất lƣợng dân số và nguồn nhân lực chất lƣợng cao của các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo, trong đó nòng cốt là cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc lĩnh vực kinh tế biển. Trên cơ sở đó lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lƣợng cao trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học và quản lý công tác tại các hải đảo, các vùng ven biển. [37] Các công trình nêu trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH, phân tích thực trạng của nguồn lực con ngƣời nói chung hoặc đi sâu về nguồn nhân lực khoa học- công nghệ ở Việt Nam. Từ đó, đƣa ra hệ thống các giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH đất nƣớc, góp phần hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.2 Về nguồn nhân lực CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT 1.1 Các tác giả nước ngoài Narendra M.
Agrawal, Mohan Thite (2003), Human resource issues, challenges and strategies in the Indian software industry (Vấn đề nguồn nhân lực, 8 z thách thức và chiến lược trong ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ) Nxb Đại họcGriffith, Ấn Độ. Thông qua việc nghiên cứu và khảo sát về ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ, tác giả đã nêu ra thực trạng, thách thức của nhân lực trong nền công nghiệp phần mềm so sánh với các quốc gia khác trên thế giới. Từ những nhận định mang tính khoa học, tác giả đã nêu ra các chiến lƣợc nhằm phát triển ngành công nghiệp phân mềm của Ấn Độ. Những kinh nghiệm này sẽ giúp ích không nhỏ trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt nam giai đoạn hiện nay.
Friedman (2006), The world is flat (Thế giới phẳng) Nxb Trẻ. Tác giả đã chỉ ra xu thế lớn của thế giới trong giai đoạn hiện nay- xu thế toàn cầu hóa. Để thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thì cần có công nghệ thông tin. Khi CNTT bùng nổ với tốc độ mạnh mẽ, điều này sẽ mở ra cho thế giới một thời đại mới, biến cả thế giới thành láng giềng với nhau.
Khi cả thế giới thành láng giềng với nhau sẽ tạo điều kiện rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức.2 Các tác giả trong nước Các nhà nghiên cứu ở Việt nam cũng đã có những công trình phân tích vai trò, thực trạng và chỉ ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH đất nƣớc. Những nghiên cứu này cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị tham khảo bổ sung cho luận văn. GS Đặng Hữu (2005), “CNTT - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức”, phân tích về sự bùng nổ của CNTT và sự tác động của nó đến mọi mặt của đời sống xã hội loài ngƣời, đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Đảng qua 4 năm (2000 - 2004) về ứng dụng CNTT của Việt Nam để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nƣớc. Phạm Kim Sơn chủ nhiệm (2005) Đề tài nghiên cứu khoa học “Chính sách phát triển nhân lực và thu hút nhân tài CNTT thành phố Đà Nẵng”, nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và phƣơng hƣớng về chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài CNTT ở thành phố Đà Nẵng.
Tác giả nêu ra nhận định về chính sách thu hút nguồn nhân lực- trong đó có nguồn nhân lực công nghệ thông tin của Đà Nẵng đã đƣợc triển khai.