ĐẶT VẤN ĐỀ Formatted: S1, Left, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single 1. Tính cấp thiết của đề tài Formatted: S2, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single Ngày 2/10/2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành thông tư số 15/2015/TT - NHNN hướng dẫn giao dịch ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối. Đây là xu hướng tất yếu, phản ánh sự hội nhập quốc tế và xu hướng tự do hóa thị trường tài chính Việt Nam. Các sản phẩm phái sinh ngoại hối không còn xa lạ gì với các thị trường phát triển, tuy nhiên, sản phẩm này còn nhiều mới mẻ đối với hầu hết các thành viên tham gia thị trường ở Việt Nam.
Hai nghiệp vụ ra đời sớm nhất cũng như được sử dụng phổ biến nhất hiện nay là giao dịch ngoại hối kỳ hạn và giao dịch ngoại hối hoán đổi. Giao dịch ngoại hối quyền chọn ra đời muộn hơn nhưng lại có một bước phát triển mạnh mẽ và mang lại nhiều nguồn lợi nhuận đáng kể cho các NHTM ở Việt Nam. So với thế giới, mức độ phát triển của giao dịch phái sinh ở Việt Nam hoàn toàn chỉ đang ở giai đoạn đầu, với các công cụ cơ bản chưa có sự khác biệt sản phẩm về loại tiền giao dịch, số lượng ngoại tệ giao dịch, chủ thể ký kết hợp đồng, mức ký quỹ…Doanh số giao dịch ngoại hối phái sinh hằng ngày ở Việt Nam vào khoảng 200-300 triệu USD/ ngày (2015). Con số này được đánh giá là tăng đáng kể so với cùng thời điểm năm 2013 ( 150 triệu USD/ngày).
Quy mô giao dịch thị trường ngoại hối phái sinh ở Việt Nam từ 2011-2015 tăng đáng kể do cơ chế điểu chỉnh tỷ giá “thả nổi có quản lý” của nhà nước. Thị trường phái sinh ngoại hối ở Việt Nam ra đời sau, các hoạt động trên thị trường đều ở mức sơ khai và chưa đi vào quy cũ, mặc dù NHNN đã có văn bản định hướng hoạt động thị trường theo mục tiêu an toàn, nhưng ngược lại, về phía NHTM luôn có xu thế lách luật kiếm lời. Nên trên thực tế, đã xuất hiện một số vấn đề như: chưa thực hiện được chức năng phòng ngừa rủi ro tỷ giá theo đúng yêu cầu của doanh nghiệp, thực tế, đã có NHTM đã lạm dụng giao dịch ngoại hối phái sinh để đầu cơ, lách trần quy định về tỷ giá, lãi suất, che giấu lỗ kinh doanh. Phát triển các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối là bước đi quan trọng và có tính quyết định đến với sự phát triển thị trường ngoại hối trong bối cảnh thị trường phái sinh ngoại hối đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới và Việt Nam đang hội nhập kinh tế thế giới.
Các doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ phái sinh ngoại hối để phòng 1 ngừa rủi ro tỷ giá và cả đầu tư sinh lời. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay doanh số nghiệp vụ phái sinh ngoại hối vẫn luôn chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong giao dịch ngoại hối của các NHTM, chưa đến 10%, thậm chí doanh nghiệp nhiều khi mong muốn phòng ngừa rủi ro tỷ giá, nhưng không thể tiếp cận được ngân hàng. Trên địa bàn thành phố Huế, các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối vẫn còn sơ khai, kém phát triển thể hiện ở doanh số giao dịch thấp, thậm chí ở một số ngân hàng thương mại mặc dù đã triển khai nghiệp vụ hoán đổi và quyền chọn ngoại hối nhưng không có giao dịch. Chính vì vậy, việc phát triển nghiệp vụ này tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế là cần thiết.
Do đó, chúng tôi đã quyết định chọn đề tài: “Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế”. Mục tiêu của đề tài Formatted: S2, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single Mục tiêu chung: khái quát hóa cơ sở lý luận về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Mục tiêu cụ thể: - Khái quát về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại - Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế giai đoạn 2014 – 2016 - Phân tích các nguyên nhân cản trở việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối từ các chi nhánh ngân hàng thương mại và từ phía các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế - Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu Formatted: S2, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single * Đối tượng nghiên cứu: Nghiệp vụ phái sinh ngoại hốitại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế * Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại địa bàn thành phố Huế Thời gian từ 2014 đến 2016 2 4.
Cách tiếp cận, phƣơng pháp nghiên cứu Formatted: S2, None, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single, Don't keep with next * Cách tiếp cận: Nghiên cứu này tập trung vào việc thu thập và khai thác ý kiến đánh giá từ các đối tượng liên quan đến nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế * Phương pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp điều tra: thu thập thông tin qua bảng hỏi với 2 mẫu điều tra. Mẫu 1: Điều tra cán bộ ngân hàng thực hiện nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Mẫu 2: Điều tra khách hàng là các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế. Đối tượng phỏng vấn được xác định theo phương pháp ngẫu nhiên thuận tiện.
Kích thước mẫu hợp lý sẽ phụ thuộc số mục hỏi đưa ra trong bảng hỏi (Theo nghiên cứu của Bollen, mỗi mục hỏi cần ít nhất là 5 mẫu) Phƣơng pháp thống kê: nhằm tập hợp các số liệu về nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế cụ thể là số lượng công cụ phái sinh được áp dụng, doanh số giao dịch và tiến hành đánh giá thực trạng chung. Sử dụng phƣơng pháp thống kê Mean và thống kê mô tả các yếu tố quan trọng để nghiên cứu các nhân tố “thúc đẩy” và “cản trở” nhằm đưa ra các giải pháp phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Huế. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Formatted: S2, Indent: First line: 0 px, Line spacing: single * Ngoài nƣớc Một số nghiên cứu gần đây và tiêu biểu về phái sinh ngoại hối gồm có: 1. Chandra Thapa, Suman Neupane, Andrew Marshall (2016), “Market liquidity risks of foreign exchange derivatives and cross-country equity portfolio allocations”, J.
Các công cụ phái sinh ngoại hối (FXD) là những công cụ quan trọng để phòng ngừa rủi ro ngoại hối (FX) và tăng lợi nhuận của danh mục đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, khả năng sử dụng FXD có thể bị hạn chế bởi chi phí giao dịch cao hơn và rủi ro thanh khoản của FXD ở các thị trường hoặc các loại tiền tệ khác nhau giữa các quốc gia. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã sử dụng một tập dữ liệu rộng lớn của 40 quốc gia và một số thông số kỹ thuật thay thế để khảo 3 sát xem rủi ro thanh khoản thị trường của các công cụ phái sinh ngoại hối có liên quan đến quyết định phân bổ danh mục vốn cổ phần đa quốc gia. Nghiên cứu cho thấy rằng các nhà đầu tư có khuynh hướng phân bổ đầu tư vào các nước có thanh khoản FXD cao và có hiệu quả về chi phí để sử dụng FXD.
Kết quả cho thấy cải cách quy định nhằm phát triển thị trường FXD có thể là một biện pháp chính sách tiềm năng để thu hút cao hơn mức đầu tư danh mục cổ phiếu đầu tư nước ngoài. Gary Simpson (2007), “Managerial incentives and the use of foreign-exchange derivatives by banks”, The Journal of Financial Research • Vol. Nghiên cứu kiểm tra tác động của bồi thường quản lý và quyền sở hữu đối với việc sử dụng các công cụ phái sinh ngoại hối của các công ty nắm giữ ngân hàng tại Mỹ. Nghiên cứu tập trung vào việc các công cụ phái sinh ngoại hối được sử dụng cho các mục đích không phải là giao dịch để điều tra việc sử dụng chúng trong bảo hiểm rủi ro.
Nhóm tác giả cho thấy rằng quyền sử hữu đối với việc sử dụng FXD có liên quan nghịch đến tác động của bồi thường quản lý. Cuối cùng, kết quả cho thấy quyền sở hữu đối với việc sử dụng FXD khuyến khích các nhà quản lý các công ty lớn để phòng ngừa rủi ro. Huffman, “Foreign exchange derivatives, exchange rate changes, and the value of the firm: U. multinationals‟ use of shortterm financial instruments to manage currency risk”, Journal of Economics and Business 53 (2001) 421–437.
Nghiên cứu này xem xét về công cụ phái sinh ngoại hối, thay đổi tỷ giá và giá trị của công ty: việc sử dụng các công cụ tài chính ngắn hạn của các công ty đa quốc gia Mỹ để quản trị rủi ro tiền tệ. Nghiên cứu cho thấy những thay đổi tỷ giá ở nước ngoài liên quan đến việc sử dụng công cụ phái sinh ngoại hối ngắn hạn có ảnh hưởng đến giá trị của các công ty đa quốc gia Mỹ. Sự thay đổi tỷ giá góp phần giải thích lợi ích bất thường của người sử dụng FXD thấp, bất kể quy mô công ty hay mức độ tham gia của nước ngoài. Chris Adcock, Xiuping Hua, Khelifa Mazouz & Shuxing Yin (2014), „Derivative activities and Chinese banks‟ exposures to exchange rate and interest rate movements‟, The European Journal of Finance.
Nghiên cứu này khảo sát tác động của các hoạt động phái sinh của các ngân hàng Trung Quốc có ảnh hưởng đến lãi suất và thay đổi lãi suất. Phân tích sâu hơn cho thấy việc sử dụng các công cụ tài chính phái 4 sinh làm giảm rủi ro về tỷ giá hối đoái của các ngân hàng, nhưng không ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi suất. Các sản phẩm phái sinh có nhiều khả năng được sử dụng như một phần tích hợp của hệ thống quản lý rủi ro của các ngân hàng Trung Quốc, có thể giúp ổn định hệ thống ngân hàng.