Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển năng lực nói cho học sinh lớp 2 trong giờ học Kể chuyện (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống)" do sinh viên Bùi Hà Nhật Mai thực hiện tại Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non, Trường Đại học Hải Phòng (năm 2024), dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thu Hiền.

Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh toàn ngành giáo dục Việt Nam đang thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội và Quyết định số 404/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 (CT GDPT 2018) chuyển dịch trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang hình thành và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực người học.

Trong môn Tiếng Việt cấp tiểu học, đặc biệt là bộ sách giáo khoa lớp 2 "Kết nối tri thức với cuộc sống", cấu trúc chương trình đã bãi bỏ việc chia tách thành các phân môn truyền thống (như Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn) để chuyển sang tổ chức tích hợp theo 4 trục hoạt động giao tiếp: Đọc, Viết, Nói và nghe, Luyện tập. Tuy nhiên, trong thực tiễn dạy học, việc rèn luyện và phát triển năng lực nói cho học sinh đầu cấp chưa nhận được sự đầu tư thỏa đáng; học sinh còn mang tâm lý rụt rè, thiếu tự tin, vốn từ hạn chế và phát âm lệch chuẩn; giáo viên gặp nhiều áp lực về mặt thời gian và phương pháp điều hành lớp học.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xây dựng và đề xuất hệ thống các biện pháp dạy học phù hợp nhằm giúp học sinh lớp 2 mạnh dạn hơn trong giao tiếp, rèn luyện kỹ năng và thói quen sử dụng lời nói biểu cảm trong các giờ luyện nói môn Tiếng Việt (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống); đồng thời đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt lớp 2 theo định hướng phát triển năng lực.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng kiến thức, ý thức giao tiếp hàng ngày, nhận thức và biểu hiện ngôn ngữ của học sinh lớp 2 khi trả lời bài học cũng như trong tương tác với thầy cô, bạn bè và gia đình.
    • Nhiệm vụ 2: Đề xuất các giải pháp sư phạm giúp học sinh có ý thức sử dụng ngôn ngữ chuẩn mực, nói đủ câu, lưu loát, diễn đạt mạch lạc, làm chủ tiếng nói; xử lý linh hoạt các tình huống giao tiếp, bồi dưỡng sự tự tin trước đám đông và phát triển nhân cách toàn diện.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp phát triển năng lực nói cho học sinh lớp 2 qua giờ dạy Tiếng Việt.
  • Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối lớp 2 Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào năng lực nói trong phân môn Tiếng Việt thuộc bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống", thực hiện khảo sát và thử nghiệm tại khối 2 Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương trong năm học 2022 - 2023 và 2023 - 2024.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm

Tác giả tổng thuật và đối chiếu khái niệm "năng lực" từ nhiều nguồn tài liệu khoa học:

  • Khái niệm năng lực của OECD (2002), Québec - Ministère de l'Éducation (2004), Chương trình giáo dục phổ thông New Zealand và định nghĩa của GS. Phạm Minh Hạc (1988).
  • Định nghĩa năng lực trong Chương trình GDPT 2018: Là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ, hứng thú, niềm tin để thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định trong điều kiện cụ thể.
  • Ba khuynh hướng tiếp cận năng lực theo nghiên cứu của Paul Hager: Hướng tiếp cận hành vi (behaviourist approach), hướng tiếp cận tổng thể (generic approach), và hướng tiếp cận toàn diện/tích hợp (holistic/integrated conception of competence theo Gonczi & Heywood).
  • Mô hình năng lực cá nhân của Spencer & Spencer (dựa trên Boyatzis) và định nghĩa của Dubois (2004).
  • Các chương trình rèn luyện kỹ năng nói tại các đại học quốc tế: Đại học Texas Tech (Oral Communication), Đại học Harvard (Creating Community in the Classroom), Đại học Ferris State (Fundamentals of Public Speaking).
  • Nghiên cứu trong nước: Quan điểm dạy học Tiếng Việt theo hướng giao tiếp và phương pháp trò chơi của Lê Sao Mai; phát triển vốn từ của Trần Thị Kim Thoa; kĩ năng giao tiếp học sinh tiểu học của Hoàng Trà My; tài liệu "Dạy học phát triển năng lực môn Tiếng Việt Tiểu học"; cùng các công trình của Nguyễn Trí, Trần Thị Hiền Lương, Đặng Thị Lệ Tâm, Phạm Thị Thu Hiền và Vũ Thị Thu Hiền (nghiên cứu về dạng bài Kể chuyện và Nói theo chủ điểm).
  • Chuẩn năng lực nói lớp 2 theo CT GDPT 2018: Nói rõ ràng, duy trì thói quen nhìn vào người nghe; sử dụng đúng các nghi thức giao tiếp (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, đề nghị, khen ngợi...); kể lại câu chuyện đơn giản có tranh minh họa; nói ngắn gọn về tác phẩm đã đọc; trao đổi nhóm theo gợi ý.
  • Đặc điểm tâm sinh lý học sinh lớp 2: Tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế, chú ý không chủ định lấn át chú ý có chủ định, ghi nhớ máy móc dựa trên hình ảnh trực quan, khả năng kiềm chế cảm xúc còn non nớt, dễ nảy sinh tâm lý rụt rè trước tập thể.

Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:

  1. Phương pháp phân tích - tổng hợp lý thuyết: Khái quát hóa các công trình nghiên cứu, văn bản pháp quy, chương trình và sách giáo khoa để xây dựng khung lý luận.
  2. Phương pháp quan sát sư phạm: Ghi nhận hoạt động luyện nói, biểu hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của học sinh trong giờ học Tiếng Việt cũng như trong môi trường giao tiếp học đường.
  3. Phương pháp khảo sát, điều tra bằng phiếu hỏi: Tiến hành trên các nhóm đối tượng (giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh) để thu thập dữ liệu định lượng và định tính về thực trạng dạy học.
  4. Phương pháp thống kê toán học: Phân loại các bài học trong SGK Tiếng Việt 2, xử lý và lập bảng tỷ lệ lỗi phát âm lệch chuẩn của học sinh.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Soạn thảo kế hoạch bài dạy theo các biện pháp đề xuất và tổ chức dạy thực nghiệm tại lớp 2A2 để kiểm tra tính khả thi.
  6. Thủ pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu chương trình cũ với chương trình mới, đối chiếu các biện pháp dạy học nhằm hoàn thiện quy trình đề xuất.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ:

  • Chương trình GDPT 2018 môn Ngữ văn (Bộ GD&ĐT, tháng 12/2018).
  • SGK Tiếng Việt lớp 2 - Tập một và Tập hai (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam).
  • Báo cáo đánh giá kết quả năm học 2022 - 2023 và phương hướng năm học 2023 - 2024 của Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương (quận Hồng Bàng, Hải Phòng).
  • Mẫu khảo sát thực tế gồm: 02 giáo viên tiểu học, 72 học sinh (lớp 2A2 và 2A3) và phụ huynh học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ

Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực ngôn ngữ, yêu cầu cần đạt của học sinh lớp 2 và tiến hành khảo sát thực tiễn tại trường tiểu học.

Tác giả thống kê cấu trúc mạch bài "Nói và nghe" trong SGK Tiếng Việt 2 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) gồm tổng cộng 31 bài phân bổ trong 35 tuần học:

  • Tập một (16 bài): Gồm 13 bài Kể chuyện (Niềm vui của Bi và Bống, Em có xinh không, Chú đỗ con, Cậu bé ham học, Bữa ăn trưa, Họa mi, vẹt và quạ, Gọi bạn, Chúng mình là bạn, Búp bê biết khóc, Hai anh em, Sự tích cây vú sữa, Bà cháu, Ánh sáng của yêu thương) và 3 bài Nói theo chủ điểm (Những ngày hè của em, Ngôi trường của em, Niềm vui của em).
  • Tập hai (15 bài): Gồm 13 bài Kể chuyện (Chuyện bốn mùa, Hồ nước và mây, Chiếc đèn lồng, Sự tích cây khoai lang, Cảm ơn họa mi, Sự tích cây thì là, Hạt giống nhỏ, Lớp học viết thư, Cảm ơn anh hà mã, Mai An Tiêm, Bóp nát quả cam, Thánh Gióng, Chuyện quả bầu) và 2 bài Nói theo chủ điểm (Bảo vệ môi trường, Nói về quê hương, đất nước em).

Khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương (năm học 2023 - 2024 có quy mô 881 học sinh chia thành 24 lớp, trung bình 32 - 36 học sinh/lớp) ghi nhận số liệu cụ thể về tình trạng phát âm lệch chuẩn của học sinh:

Lớp Sĩ số Lỗi L/n (SL - %) Lỗi dấu thanh (SL - %) Lỗi âm vần (SL - %) Lỗi cơ quan phát âm (SL - %)
2A2 36 4 (11,11%) 6 (16,67%) 1 (2,78%) 2 (5,56%)
2A3 36 5 (13,89%) 5 (13,89%) 2 (5,56%) 1 (2,78%)
Tổng cộng 72 9 (12,50%) 11 (15,28%) 3 (4,17%) 3 (4,17%)

Chương 1 chỉ ra các hạn chế chính: học sinh thiếu vốn từ mang tính biểu cảm nghệ thuật, yếu trong việc kết hợp các yếu tố phi ngôn ngữ (ánh mắt, cử chỉ, tư thế, ngữ điệu giọng nói theo nhân vật). Nguyên nhân xuất phát từ tâm lý lúng túng của lứa tuổi đầu cấp, áp lực quản lý thời lượng 35-40 phút của giáo viên và việc gia đình để học sinh tiếp xúc quá sớm với thiết bị điện tử thiếu sự kiểm soát.


CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ĐỂ PHÁT HUY NĂNG LỰC NÓI CHO HỌC SINH

Chương 2 trình bày hệ thống 6 hoạt động dạy học tương ứng với tiến trình bài dạy Nói và nghe trên lớp:

[Hoạt động 1: Khởi động] 
       ↓
[Hoạt động 2: Chuẩn bị trước khi nói] 
       ↓
[Hoạt động 3: Ghi nhớ nội dung câu chuyện] 
       ↓
[Hoạt động 4: Luyện nói] 
       ↓
[Hoạt động 5: Đánh giá, nhận xét] 
       ↓
[Hoạt động 6: Vận dụng]

Chi tiết các hoạt động trọng tâm:

  1. Hoạt động khởi động: Nhằm kích hoạt vốn kiến thức sẵn có và tạo tâm thế học tập tích cực. Đảm bảo 3 nguyên tắc: huy động vốn sống/kiến thức, tạo hứng thú, và dẫn dắt vào bài mới. Tác giả thiết kế 5 hình thức tổ chức cụ thể kèm ví dụ bài học:
    • Xem tranh ảnh, video: Ví dụ bài Ngôi trường của em (Tuần 6, Bài 11) – GV trình chiếu hình ảnh khuôn viên Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương để học sinh nhận diện và liên hệ.
    • Kết hợp âm nhạc và vũ đạo: Ví dụ bài kể chuyện Búp bê biết khóc (Tuần 13, Bài 23) – Cho học sinh hát và vận động múa phụ họa theo bài hát "Búp bê bằng bông".
    • Đố vui: Ví dụ bài Chuyện bốn mùa (Tuần 19, Bài 1) – Sử dụng 4 câu thơ đố về đặc trưng thời tiết, cảnh vật của các mùa xuân, hạ, thu, đông với thời gian suy nghĩ 10 giây.
    • Trò chơi khởi động: Ví dụ bài kể chuyện Bữa ăn trưa (Tuần 7, Bài 13) – Tổ chức trò chơi "Chuyền đồ ăn" chia 4 tổ ngậm thìa chuyền mô hình đồ ăn vào rổ trong 4 phút.
    • Chia sẻ trải nghiệm cá nhân: Ví dụ bài Bảo vệ môi trường (Tuần 26, Bài 15) – Đặt câu hỏi phỏng vấn nhanh 2-3 học sinh về các hành động dọn vệ sinh, bảo vệ môi trường đã từng tham gia.
  2. Hoạt động chuẩn bị trước khi nói về một vấn đề SGK đưa ra: Áp dụng cho 4 bài nói theo chủ điểm (Những ngày hè của em, Ngôi trường của em, Bảo vệ môi trường, Nói về quê hương, đất nước em). Học sinh được hướng dẫn chuẩn bị tư liệu, tranh ảnh, đồ vật hoặc video tự quay; giáo viên hỗ trợ xây dựng khung dàn ý logic tránh nói rời rạc.
  3. Hoạt động ghi nhớ nội dung câu chuyện: Hướng dẫn học sinh nắm bắt cốt truyện dựa trên tranh minh họa, chuỗi câu hỏi gợi ý và từ ngữ khóa.
  4. Hoạt động luyện nói: Tổ chức theo quy trình từ cá nhân, cặp đôi, nhóm nhỏ đến trình bày trước tập thể lớp; rèn luyện cách phát âm rõ ràng, nói đủ câu và biểu cảm ngữ điệu.
  5. Hoạt động đánh giá, nhận xét: Hướng dẫn học sinh tự nhận xét và đánh giá chéo bạn theo tiêu chí cụ thể (nội dung đúng đề tài, nói to rõ, cử chỉ tự nhiên); giáo viên tổng kết và động viên.
  6. Hoạt động vận dụng: Giao nhiệm vụ kể lại câu chuyện cho người thân nghe hoặc viết từ 2-3 câu chia sẻ cảm xúc sau tiết học.

CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM

Chương 3 trình bày việc kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã xây dựng:

  • Địa bàn và đối tượng: Lớp 2A2 Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương.
  • Nội dung: Soạn giáo án thực nghiệm và tổ chức dạy học trực tiếp 1 tiết luyện nói thuộc chương trình SGK Tiếng Việt 2.
  • Công cụ đo lường: Thu thập phiếu khảo sát phản hồi của học sinh sau tiết học (Bảng 3.1a, b, c, d), bảng đánh giá xếp loại kỹ năng nói của học sinh (Bảng 3.2) và phiếu khảo sát giáo viên về tính hiệu quả, tính khả thi của các hoạt động dạy học đề xuất (Bảng 3.3).
  • Kết quả ghi nhận: Tiết dạy thực nghiệm giúp học sinh lớp 2A2 trở nên tích cực, tự tin hơn khi nói trước đám đông, giảm thiểu các lỗi phát âm sai và diễn đạt câu hoàn chỉnh hơn; giáo viên tham dự đánh giá cao tính thực tiễn và khả năng áp dụng vào chương trình lớp 2.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Hệ thống hóa các căn cứ lý luận trong và ngoài nước về năng lực nói và dạy học tiếp cận năng lực cho học sinh đầu cấp tiểu học theo CT GDPT 2018.
  • Khảo sát thực trạng trên 72 học sinh khối 2 tại Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương, định vị chính xác tỷ lệ phát âm lệch chuẩn: 15,28% sai dấu thanh, 12,50% lẫn lộn L/n, 4,17% lỗi âm vần và 4,17% lỗi do tật cơ quan phát âm.
  • Thiết lập quy trình tổ chức dạy học gồm 6 hoạt động với các ví dụ thực hành bám sát 31 bài Nói và nghe trong SGK Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống).
  • Xây dựng hệ thống 5 hình thức khởi động trực quan, giúp tăng cường hứng thú học tập và tạo môi trường giao tiếp tự nhiên cho học sinh.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với giáo viên: Cần linh hoạt đa dạng hóa các hình thức khởi động, không rập khuôn máy móc; chú trọng rèn các yếu tố phi ngôn ngữ song song với việc sửa lỗi phát âm; tạo môi trường an toàn để học sinh không e ngại khi nói sai.
  • Đối với nhà trường: Đầu tư bổ sung các phương tiện dạy học trực quan, bài giảng điện tử; tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn chuyên đề về rèn luyện kỹ năng nói và nghe cho giáo viên.
  • Đối với phụ huynh: Tăng cường thời gian trò chuyện tương tác trực tiếp với con tại gia đình; kiểm soát thời lượng và nội dung tiếp xúc với mạng xã hội/thiết bị điện tử để uốn nắn ngôn từ giao tiếp cho trẻ.

Đóng góp của đề tài

Khóa luận đã giải quyết trực tiếp khoảng trống nghiên cứu thực hành phương pháp dạy học phân môn Tiếng Việt lớp 2 theo bộ sách mới "Kết nối tri thức với cuộc sống", chuyển hóa các định hướng lý luận chung thành hệ thống giáo án, kế hoạch bài dạy và phương pháp tổ chức hoạt động cụ thể cho từng tiết học Nói và nghe.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm còn giới hạn trong phạm vi một trường tiểu học (Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương, quận Hồng Bàng, Hải Phòng) với quy mô mẫu khảo sát giáo viên hẹp (02 giáo viên) và 01 lớp thực nghiệm (lớp 2A2).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát và thử nghiệm trên nhiều trường tiểu học thuộc các địa bàn kinh tế - xã hội khác nhau; nghiên cứu chuyên sâu các biện pháp sửa lỗi phát âm phương ngữ và thiết kế sổ tay hướng dẫn rèn kỹ năng nói tích hợp cho các khối lớp 1, 3, 4, 5.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học, Sư phạm Tiếng Việt: Cung cấp khung lý thuyết về dạy học phát triển năng lực, phương pháp điều tra thực trạng và quy trình thiết kế giáo án thực nghiệm môn Tiếng Việt lớp 2.
  • Giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy: Tham khảo trực tiếp hệ thống 5 hình thức khởi động sinh động (trò chơi, video, bài hát, câu đố, chia sẻ trải nghiệm) và quy trình 6 bước tổ chức tiết Nói và nghe.
  • Cán bộ chuyên môn tiểu học: Phục vụ công tác bồi dưỡng phương pháp giảng dạy chương trình SGK mới theo định hướng phát triển năng lực giao tiếp.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát thực trạng năng lực nói trên đối tượng và địa bàn nào?
Nghiên cứu khảo sát trên 72 học sinh thuộc hai lớp 2A2 và 2A3, cùng 02 giáo viên dạy lớp 2 tại Trường Tiểu học Nguyễn Tri Phương, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng trong năm học 2023 - 2024.

2. Lỗi phát âm lệch chuẩn phổ biến nhất của học sinh được ghi nhận là gì?
Theo Bảng 1.8 trong khóa luận, lỗi phát âm sai các dấu thanh chiếm tỷ lệ cao nhất với 15,28% (11/72 học sinh), đứng thứ hai là lỗi lẫn lộn phụ âm L/n với 12,50% (9/72 học sinh); lỗi âm vần và lỗi do cơ quan phát âm đều chiếm 4,17% (3/72 học sinh).

3. Mạch nội dung "Nói và nghe" trong SGK Tiếng Việt 2 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) gồm những dạng bài nào?
Gồm 2 dạng bài chính: "Kể chuyện" (nghe kể và kể lại từng đoạn/toàn bộ câu chuyện) và "Nói theo chủ điểm" (nói về trải nghiệm thực tế của học sinh). Cả năm học có tổng cộng 31 bài (Tập 1 có 16 bài gồm 13 bài kể chuyện và 3 bài theo chủ điểm; Tập 2 có 15 bài gồm 13 bài kể chuyện và 2 bài theo chủ điểm).

4. Tác giả đề xuất quy trình dạy học phát triển năng lực nói gồm những hoạt động nào?
Quy trình gồm 6 hoạt động liên hoàn: (1) Hoạt động khởi động, (2) Hoạt động chuẩn bị trước khi nói về một vấn đề SGK đưa ra, (3) Hoạt động ghi nhớ nội dung câu chuyện, (4) Hoạt động luyện nói, (5) Hoạt động đánh giá, nhận xét, và (6) Hoạt động vận dụng.

5. Hoạt động khởi động được thiết kế theo những hình thức cụ thể nào?
Gồm 5 hình thức tổ chức: Xem tranh ảnh/video; Kết hợp âm nhạc và vũ đạo; Đố vui; Trò chơi khởi động (như trò "Chuyền đồ ăn"); và Chia sẻ trải nghiệm cá nhân trước lớp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Hà Nhật Mai đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề phát triển năng lực nói cho học sinh lớp 2 theo Chương trình GDPT 2018 qua bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống". Công trình đã làm rõ cơ sở lý luận, cung cấp số liệu thực trạng chuẩn xác tại địa bàn quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và đề xuất quy trình 6 hoạt động dạy học giàu tính tương tác. Kết quả nghiên cứu là tài liệu chuyên môn thiết thực, hỗ trợ đắc lực cho sinh viên sư phạm và giáo viên tiểu học trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt đầu cấp.