CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ 1. Khái niệm năng lực và dạy học phát triển năng lực 1. Năng lực Thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa được một cách chính xác. Năng lực hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”, … trong tiếng Anh.
Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu: - Theo định nghĩa của các nước có nền kinh tế phát triển OECD (2002) đưa ra: năng lực là khả năng của cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công trong một bối cảnh cụ thể. - Theo cơ quan Québec-Ministere de l’Education (2004) cho rằng: năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống phong phú của cuộc sống. - Chương trình giáo dục phổ thông của New Zealand thì “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục phát triển năng lực. Khái niệm này cũng được định nghĩa khá tương đồng với các định nghĩa mà các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra.
- Theo Phạm Minh Hạc chủ biên (1988) cho rằng: năng lực chính là một tổ hợp đặc điểm tâm lí của con người; tổ hợp đặc điểm này vận hành theo mục đích, tạo ra kết quả của một hoạt động nào đấy. Từ những khái niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như trong nước thì Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã tựu chung lại và đưa ra khái niệm “năng lực” là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, … thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Chương trình đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các năng lực cốt lõi bao gồm các năng lực chung và các năng lực đặc thù. 14 Cấu trúc năng lực là tổng hòa kiến thức, kĩ năng, thái độ, ý chí, trách nhiệm.
và sự vận dụng những yếu tố này để giải quyết các tình huống đặt ra trong thực tiễn một cách hiệu quả. Như vậy, những yếu tố như kiến thức - kĩ năng - thái độ. cũng không phải hoàn toàn tách biệt mà có mối quan hệ biện chứng với nhau. Khi nói đến năng lực nói là nói đến toàn bộ những yếu tố giúp HS có thể nói và tham gia giao tiếp thành công, nghĩa là học sinh phải làm chủ, có hiểu biết, có kiến thức về vấn đề đang được nói đến, hiểu về ngôn ngữ cũng như các yếu tố chi phối hoạt động nói năng và vận dụng chúng một cách hiệu quả.
Dạy học phát triển năng lực Như chúng ta đều biết và thừa nhận rằng mỗi học sinh là một cá thể độc lập, có sự khác biệt về trình độ, năng lực, nhu cầu, sở thích và nền tảng xuất thân. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thừa nhận thực tế này và tìm ra được những cách tiếp cận phù hợp nhằm phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất với mỗi học sinh thay vì giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức như ở mô hình dạy học truyền thống. Theo đó, dạy học phát triển năng lực là mô hình dạy học hướng tới mục tiêu phát triển tối đa phẩm chất và năng lực của người học thông qua cách thức tổ chức các hoạt động học tập độc lập, tích cực, sáng tạo của học sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn và hỗ trợ hợp lý của giáo viên. Trong mô hình này, người học có thể thể hiện sự tiến bộ bằng cách chứng minh năng lực của mình.
Điều đó có nghĩa là người học phải chứng minh mức độ nắm vững và làm chủ các kiến thức và kỹ năng (được gọi là năng lực); huy động tổng hợp mọi nguồn lực (kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí,…) trong một môn học hay bối cảnh nhất định, theo tốc độ của riêng mình. Vấn đề phát triển năng lực cho học sinh Tiểu học 1. Mục tiêu phát triển năng lực theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các năng lực cốt lõi bao gồm các năng lực chung và các năng lực đặc thù. Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Năng lực đặc thù là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu của một hoạt động như toán học, âm nhạc, mĩ thuật, thể thao. Các năng lực chung được hình thành, phát triển thông qua các môn học và hoạt động giáo dục: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Các năng lực đặc thù được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm mĩ và năng lực thể chất. Các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu, năng lực chung đã được thể hiện rõ trong văn bản Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Các yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù gắn liền với các nội dung dạy học và giáo dục được quy định trong văn bản chương trình từng môn học, hoạt động giáo dục. Như vậy, năng lực giao tiếp và năng lực ngôn ngữ thuộc nhóm năng lực chung và chuyên môn cần phát triển cho học sinh đều có liên quan chặt chẽ đến năng lực. Việc phát triển năng lực nói là để hoàn thiện năng lực giao tiếp và năng lực ngôn ngữ cho học sinh. Đồng thời, để phát triển năng lực nói không thể tách rời sự phát triển năng lực đọc, viết và nghe.
Yêu cầu cần đạt về năng lực nói đối với học sinh lớp 2 Đối với học sinh Tiểu học, mục tiêu phát triển năng lực nói được cụ thể hóa trong mục tiêu dạy học môn Tiếng Việt – môn học có thế mạnh đặc thù trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh, như sau: “Kết thúc cấp tiểu học, học sinh biết trình bày dễ hiểu các ý tưởng và cảm xúc; bước đầu biết sử dụng cử chỉ, điệu bộ thích hợp khi nói; kể lại được một cách rõ ràng câu chuyện đã đọc, đã nghe; biết chia sẻ, trao đổi những cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình đối với những vấn đề được nói đến; biết thuyết minh về một đối tượng hay quy trình đơn giản. Nghe hiểu với thái độ phù hợp và nắm được nội dung cơ bản; nhận biết được cảm xúc của người nói; biết cách phản hồi những gì đã nghe. Thông qua phát triển năng lực nói nghe tương tác, học sinh biết tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình bằng việc bày tỏ và chia sẻ tình cảm, cảm xúc của bản thân với người khác.”[Chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn, tháng 12/2018] Theo chương trình giáo dục phổ thông mới thì yêu cầu phát triển năng lực nói của học sinh lớp Hai cần đạt những yêu cầu cụ thể như sau: - Nói rõ ràng, có thói quen nhìn vào người nghe. - Biết nói và đáp lại lời chào hỏi, chia tay, cảm ơn, xin lỗi, lời mời, lời đề nghị, chúc mừng, chia buồn, an ủi, khen ngợi, bày tỏ sự ngạc nhiên; đồng ý, không đồng ý, từ chối phù hợp với đối tượng người nghe.
- Kể được một câu chuyện đơn giản (có hình ảnh) đã đọc, nghe, xem. 16 - Nói ngắn gọn về một câu chuyện hoặc bài thơ đã đọc theo lựa chọn của cá nhân (tên văn bản, nội dung văn bản, nhân vật yêu thích). - Biết trao đổi trong nhóm về các nhân vật trong một câu chuyện dựa vào gợi ý. - Biết trao đổi trong nhóm về một vấn đề: chú ý lắng nghe người khác, đóng góp ý kiến của mình, không nói chen ngang khi người khác đang nói.
Năng lực nói được cụ thể hóa như sau: - Phát âm: phát âm đúng các phụ âm, nguyên âm, âm tiết tiếng Việt. - Đặt câu: nói được ý trọn vẹn, đúng ngữ điệu, thể hiện đúng suy nghĩa cá nhân, bộc lộ tình cảm thích hợp. - Thực hiện các hành động ngôn ngữ: kể, trình bày, báo cáo, hỏi, yêu cầu, đề nghị, khuyên v. - Độc thoại, đối thoại: trong gia đình, nhà trường và trong cuộc sống v.
- Nói về một nội dung cho trước. - Thuyết phục: nói đúng chủ đề, lập luận logic, nhất quán. - Phát biểu ý kiến, thuyết trình, thuyết minh, giải thích trước đám đông. - Đối thoại, trao đổi, thoả thuận, đàm phán 1.
Vai trò của việc phát triển năng lực nói cho học sinh lớp 2 Kĩ năng nói là một hoạt động không thể thiếu của con người ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là lứa tuổi Tiểu học. Bởi lẽ, rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 2 là rất quan trọng, góp phần xây dựng nền tảng để phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh và được đánh giá cao trong giảng dạy. Kĩ năng nói tốt giúp các em giao tiếp có hiệu quả và là cơ sở tạo ra sự thành công trong học tập và đời sống xã hội, khi các em ra ngoài tiếp xúc với nhiều điều mới lạ. Nó là phương tiện để HS tư duy và nhận thức về thế giới xung quanh một cách tích cực.
Chính khả năng nói của các em đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giao tiếp của các em. Kĩ năng nói tốt là cơ sở giúp trẻ phát triển năng lực học tập, năng lực tư duy, năng lực hợp tác. Đồng thời giúp trẻ tự mình tìm hiểu và khám phá thế giới xung quanh một cách dễ dàng.