phần mở đầu, nội dung, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục. Trong đó nội dung của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng là: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực trạng về phát triển năng lực giải quyết 4 vấn đề và sáng tạo trong dạy học theo định hƣớng STEM Chƣơng 2: Thiết kế các chủ đề và kế hoạch dạy học chủ đề STEM phần hydrocarbon theo định hƣớng giáo dục STEM nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO TRONG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG STEM 1. Lịch sử giáo dục STEM 1. Trên thế giới Thuật ngữ STEM lần đầu tiên đƣợc giới thiệu bởi Quỹ Khoa học Mỹ vào năm 2001.
Từ đó đến nay, giáo dục STEM đƣợc nhiều tổ chức, nhà giáo dục quan tâm nghiên cứu. Theo Bộ Giáo dục Hoa Kỳ (2007): “Giáo dục STEM là một chƣơng trình nhằm cung cấp hỗ trợ, tăng cƣờng, giáo dục Khoa học, công nghệ, kỹ thuật và Toán học (STEM) ở tiểu học và trung học cho đến bậc sau đại học”. Nhóm tác giả Nhóm tác giả Tsupros, Kohler, và Hallinen (2009) cho rằng: “Giáo dục STEM là một phƣơng pháp học tập tiếp cận liên ngành, ở đó những kiến thức hàn lâm đƣợc kết hợp chặt chẽ với các bài học thực tế thông qua việc HS đƣợc áp dụng những kiến thức Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và Toán học vào trong những bối cảnh cụ thể tạo nên một kết nối giữa nhà trƣờng, cộng đồng và các doanh nghiệp cho phép ngƣời học phát triển những kĩ năng STEM và tăng khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế mới”. Các nƣớc phát triển nhƣ Mỹ, Anh, Australia, Canada,…luôn tạo điều kiện thuận lợi nhất về chính sách nhằm thúc đẩy giáo dục STEM tại quốc gia mình.
Chẳng hạn, các chƣơng trình tài trợ, tuyển dụng tài năng khoa học ngƣời nƣớc ngoài, các chƣơng trình gắn kết hoạt động STEM trong trƣờng học, dạy nghề và giáo dục đại học với ngành công nghiệp, kinh doanh và các ngành nghề khác trong xã hội. Những chƣơng trình này thƣờng đƣợc chính phủ tạo điều kiện hoặc thông báo bởi các viện, 6 trung tâm hoặc các cơ quan khác nằm trong chƣơng trình nghị sự quốc gia về STEM. Tại Australia có các chƣơng trình cấp quốc gia về giáo dục STEM nhƣ chƣơng trình iSTEM (2009) với mục tiêu làm giàu tri thức cho HS trung học ở Sydney. Bên cạnh những thuận lợi về chính sách, các nƣớc dù có nền tảng về chính trị, kinh tế - xã hội cũng nhƣ truyền thống giáo dục, nhƣng để thành công trong giáo dục STEM đều có những điểm tƣơng đồng nhất định (Tổng kết Dự án nghiên cứu giáo dục STEM của gần 20 nƣớc năm 2013).
Đầu tiên là sự coi trọng dành cho GV giảng dạy STEM, điển hình nhƣ Phần Lan, mọi giáo viên đều phải có bằng thạc sĩ trở lên, hay những giáo viên giỏi nhất sẽ đƣợc điều động tới dạy ở các vùng khó khăn của đất nƣớc. Tại Trung Quốc, việc tăng lƣơng hay thăng tiến của GV không đơn thuần theo thâm niên công tác mà phụ thuộc vào năng lực thực sự của GV, đƣợc đánh giá qua các tiêu chuẩn và các chƣơng trình phát triển chuyên môn liên tục. Ở các nƣớc phát triển mạnh về giáo dục, STEM cho thấy có sự cải cách chƣơng trình và phƣơng pháp giảng dạy, trong đó có tập trung vào việc làm cho khoa học và toán học trở nên hấp dẫn và thiết thực hơn thông qua học tập dựa trên vấn đề, yêu cầu và nhấn mạnh vào sự sáng tạo, tƣ duy phê phán. Một số quốc gia, điển hình nhƣ Hoa Kì đã xây dựng xong Chuẩn khoa học thế hệ mới NGSS và khung chƣơng trình STEM ( áp dụng tại một số bang), với mục tiêu hƣớng dẫn GV cách phát triển chƣơng trình dạy học chất lƣợng cao theo định hƣớng STEM.
Chuẩn khoa học thế hệ mới NGSS đƣợc xem nhƣ nền tảng quan trọng và thuận lợi để đƣa giáo dục STEM vào nhà trƣờng phổ thông đối với hình thức giáo dục chính khóa. Một hình thức giáo dục STEM khác khá phổ biến ở các nƣớc phát triển (Mỹ, Anh, Australia,…) là các chƣơng trình 7 ngoại khóa độc lập, do các trƣờng đại học hoặc các đơn vị bên ngoài phối hợp tổ chức cùng trƣờng phổ thông. Các chƣơng trình này thƣờng không thu phí (nếu có thì cũng rất thấp). Trên thực tế, HS rất hào hứng tham gia vào các buổi học ngoại khóa này, các chủ đề trong khóa học cũng thể hiện rõ tƣ tƣởng của giáo dục STEM, phần nào do ít bị giới hạn về mặt thời gian và nội dung so với chƣơng trình chính khóa.
Ngoài ra còn có một số hình thức triển khai khác nhƣ: Hội chợ khoa học các cấp, các câu lạc bộ khoa học, các dự án học tập STEM…cũng góp phần đƣa giáo dục STEM vào nhà trƣờng phổ thông. Nhƣ vậy có thể thấy rằng, trên thế giới các nƣớc đặc biệt là các nƣớc phát triển rất chú trọng phát triển giáo dục STEM, luôn tạo những điều kiện tốt nhất để đƣa giáo dục STEM vào trƣờng học. Tại Việt Nam Khác với các nƣớc phát triển trên thế giới nhƣ Mỹ, giáo dục STEM du nhập vào Việt Nam không phải bắt nguồn từ các nghiên cứu khoa học giáo dục hay từ chính sách vĩ mô về nguồn nhân lực mà bắt nguồn từ các cuộc thi Robot dành cho học sinh từ cấp tiểu học đến phổ thông trung học do các công ty công nghệ tại Việt Nam triển khai cùng với các tổ chức nƣớc ngoài. Từ đó đến nay giáo dục STEM đã bắt đầu có sự lan toả với nhiều hình thức khác nhau, nhiều cách thức thực hiện khác nhau, nhiều tổ chức hỗ trợ khác nhau.
Tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về cơ sở lý luận giáo dục STEM, mối liên hệ giữa dạy học theo định hƣớng STEM và phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo nhƣ: - Nguyễn Mậu Đức (2017) “Ứng dụng mô hình STEM vào chƣơng trình giáo dục phổ thông mới” Trƣờng Đại học Sƣ phạm – Đại học Thái Nguyên[10]. 8 - Nguyễn Mậu Đức – Dƣơng Thị Ánh Tuyết (2018) “Dạy học chủ đề axit – bazơ chƣơng trình hoá học lớp 11 theo định hƣớng giáo dục STEM” Tạp chí Giáo dục, số đặc biết tháng 8, tr 225-230 [12]. - Nhóm tác giả Nguyễn Mậu Đức – Đinh Thị Ngoan (2019) “Thiết kế chủ đề “pin chanh” (chƣơng trình hoá học vô cơ lớp 12) theo định hƣớng giáo dục STEM” [11]. Nhóm tác giả trình bày về quy trình để thiết kế chủ đề và thiết kế chủ đề “pin chanh” theo định hƣớng giáo dục STEM.
- Nhóm tác giả Vũ Phƣơng Liên, Lê Thái Hƣng, Nguyễn Phƣơng Vy “Giáo dục STEM trong trƣờng phổ thông nhằm phát triển năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cho học sinh: lý luận và đề xuất mô hình triển khai trong dạy học”[16]. Nhóm tác giả đã trình bày về khái niệm giáo dục STEM, phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua mô hình giáo dục STEM. - Tác giả Lê Thanh Hà (2021) “Xây dựng khung năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong dạy học sinh học phổ thông theo định hƣớng giáo dục STEM”[14]. Tác giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa dạy học theo định hƣớng giáo dục STEM với việc phát triển NL GQVĐ và ST cho HS.
- Nhóm tác giả Chu Văn Tiềm, Đào Thị Việt Anh (2021) “ Thực trạng phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh thông qua vận dụng mô hình giáo dục STEM trong dạy học Hoá học ở trƣờng trung học phổ thông” [21]. Nghiên cứu đã chỉ ra sự cần thiết phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh; cần vận dụng phối hợp, linh hoạt nhiều phƣơng pháp dạy học và kiểm tra đánh giá để tổ chức dạy học các chủ đề/bài học STEM trong môn Hoá học nhằm phát triển NL GQVĐ và ST cho học sinh. Ngoài ra, nghiên cứu cũng làm rõ những thuận lợi, khó khăn của GV và 9 đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực này cho HS khi tổ chức dạy học các chủ đề/bài học STEM trong môn hoá học ở trƣờng THPT. Bên cạnh đó, còn rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến việc xây dựng các chủ đề STEM nhằm phát triển năng lực cho học sinh.
Với mong muốn đóng góp thêm các chủ đề/bài học theo định hƣớng STEM nên tôi chọn đề tài này với hy vọng sẽ xây dựng đƣợc thêm các chủ đề/bài học theo định hƣớng STEM ở phần hydrocarbon, Khoa học tự nhiên 9 và đƣa vào giảng dạy nhằm góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho HS. Khái niệm và cơ sở lý luận của giáo dục STEM 1. Khái niệm STEM STEM là thuận ngữ xuất phát từ phƣơng pháp giảng dạy và học tập tích hợp nội dung và kỹ năng đã học về khoa học (Science), kỹ thuật (Technology), kỹ thuật (Engineering) và toán học (Mathematics). Sự phát triển về Khoa học, Công nghệ, Kĩ thuật và toán học đƣợc mô tả bởi chu trình STEM, trong đó Science là kiến thức khoa học; Engineering là quy trình sử dụng kiến thức khoa học để thiết kế công nghệ mới nhằm giải quyết vấn đề; Toán là công cụ đƣợc sử dụng để thu nhận kết quả và chia sẻ kết quả đó với ngƣời khác.
Một số khái niệm liên quan + STEM mở: bao gồm nhiều hơn 4 lĩnh vực (Toán, Công nghệ, Kĩ thuật và Khoa học) nhƣ Nghệ thuật, Nhân văn, Robot,…. + STEM đóng: bao gồm 4 lĩnh vực (Toán, Công nghệ, Kĩ thuật và Khoa học). + STEM khuyết: bao gồm ít hơn 4 lĩnh vực (Toán, Công nghệ, Kĩ thuật và Khoa học). 10 + STEAM: là hƣớng tiếp cận giáo dục sử dụng mô hình STEM kết hợp với nghệ thuật, nhân văn (Art).
+ STEM và sáng tạo KHKT: STEM là cơ sở giúp học sinh phát triển thành các dự án sáng tạo KHKT. Phân loại STEM (1) Dựa trên các lĩnh vực STEM tham gia giải quyết vấn đề, STEM đƣợc chia thành 2 loại: - STEM đầy đủ: là loại hình STEM yêu cầu ngƣời học cần vận dụng kến thức của cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề. - STEM khuyết: là loại hình STEM yêu cầu ngƣời học không cần vận dụng kiến thức của cả bốn lĩnh vực STEM để giải quyết vấn đề.