Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH 1. Những nghiên cứu về năng lực và phát triển năng lực cho học sinh 1. Những nghiên cứu về năng lực 1. Những nghiên cứu về năng lực nước ngoài Nhiều tài liệu nghiên cứu về NL cho rằng NL là khả năng (ability, capacity, possibility).
Chẳng hạn: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế thế giới (OCED) quan niệm NL là khả năng giải quyết một vấn đề phức tập nào đó trong một hoàn cảnh cụ thể, nhất định [119]. Do vậy, NL cao hơn kĩ năng một bậc và sự thành thục của kĩ năng cũng quyết định tới sự cao thấp của NL trong khi xếp mức độ. CT Giáo dục bang Québec, Canada xem NL là khả năng hành động đạt mức độ cao, mang lại hiệu quả hoặc là sự giải quyết thỏa đáng một tình huống khó trong thực tiễn (CT Giáo dục của New Zealand), là những kiến thức, NL và các giá trị được phản ánh trong những thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. NL là những tri thức, kĩ năng và các giá trị được thể hiện trong chính hoạt động cụ thể của từng cá nhân cũng như trong suy nghĩ.
Thói quen và hành động được hình thành, rèn luyện và thực hiện một cách thường xuyên sẽ trở thành NL. Với những nghiên cứu này, việc HS được hình thành tri thức, cung cấp các kĩ năng thuần thục và thái độ không xem là có NL mà người học cần biết vận dụng ba yếu tố này vào một hoàn cảnh cụ thể, nhất định mới phát triển thành NL [DT, 92]. Nhiều công trình nghiên cứu những năm gần đây đã trình bày khái niệm NL. Weinert cho rằng, NL chính là hệ thống khả năng, sự thành thục trong kĩ năng, giúp người học có thể đạt được mục đích nào đó.Coolahan, NL là những khả năng dựa trên tri thức cung cấp, kĩ năng hình thành, kinh nghệm của người học được phát triển thông qua con đường thực hành, luyện tập [DT, 119].
Theo tác giả Denyse Tremblay cho rằng NL là khả năng hành động, huy động và tổng hợp hiệu quả 3 yếu tố (kiến thức, kĩ năng, thái độ) tạo nên giá trị, sự thành công và tiến bộ. Ví dụ: khả năng giao tiếp là một NL dựa trên kiến thức của cá nhân về ngôn ngữ, kĩ năng thực hành và thái độ hướng tới những người mà ta muốn giao tiếp [DT, 92]. Một số công trình nghiên cứu nước ngoài lại quy NL vào phạm trù đặc điểm. Leonchiev [DT, 85], NL là đặc điểm chủ thể-người học thực hiện 8 hoạt động nào đó một cách thành công.
Như vậy, NL có tính chất cá nhân, liên quan đến một con người nhất định và NL của người này sẽ khác với NL của người khác. Một người sẽ có nhiều NL khác nhau và NL hoạt động nào đó của người này không giống NL của người khác. Dù các công trình khác nhau, thế nhưng khái niệm về NL vẫn thể hiện ở những nội hàm chung nhất. Nói đến NL là nói đến việc biết làm của cá nhân-người học, chứ không phải chỉ nhớ, biết và hiểu.
Việc biết làm này phải thực hiện dựa trên ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng và thái độ. Phân loại NL hiện nay tương đối khó. Nhìn vào các thành tựu nghiên cứu của nhiều nước, có hai loại NL chính: NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt. Trong đó, NL cụ thể, chuyên biệt là NL riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó.
Sáng tạo và đọc diễn cảm là ví dụ để phân biệt hai loại NL. Sáng tạo là NL chung. Nó là sản phẩm của tất cả các môn học, còn đọc diễn cảm là NL riêng, NL do môn Tiếng Việt đảm nhận. Những nghiên cứu về năng lực trong nước Ở Việt Nam, khái niệm NL nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu.
Chúng tôi xinh trích dẫn một vài thành tựu cơ bản. Một số nghiên cứu trong nước quy NL vào hoạt động: CTGDPT tổng thể xếp NL vào phạm trù hoạt động khi giải thích: NL là việc huy động và kết hợp nhiều yếu tố khác nhau như kiến thức, kỹ năng, sở thích, niềm tin, ý chí. để thực hiện một công việc cụ thể trong một hoàn cảnh nhất định [8]. Thực tế, NL của con người được thể hiện và bộc lộ qua việc hoàn thành thành công các hoạt động, nhưng chính bản thân NL không phải là hoạt động.
NL là kết quả của việc kết hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng và các đặc điểm cá nhân khác, chứ không phải là chính quá trình kết hợp đó. Tác giả Hoàng Hoà Bình nhấn mạnh: NL chỉ thực sự được hình thành thông qua việc HS lặp đi lặp lại quá trình hoạt động. Nhìn từ ngoài vào, NL được tạo từ tri thức, NL và PC. Còn bên trong là các thành tố NL hiểu, NL làm và NL đối xử.
Mỗi NL khi được thực hành và rèn luyện sẽ tạo thành NL lớn, NL lớn được phân chia thành nhiều NL bộ phận, NL nhỏ nhất [3]. Tác giả Lê Phương Nga [66] từng chia sẻ: NL là khả năng cá nhân thực hiện tốt một loạt các nhiệm vụ học tập trong bất kì hoàn cảnh nào bằng cách dựa vào NL, PC, tri thức đã có và kinh nghiệm bản thân trải qua. NL hành động không phải chỉ là sự tích hợp thuần túy của kiến thức, NL, PC trang bị cho HS mà là kết hợp nhuần nhuyễn giữa kiến thức, NL, PC, là kết quả tổng hợp giữa kiến 9 thức lý thuyết và khả năng vận dụng thực tiễn của người học, thể hiện ở việc giải quyết một nhiệm vụ cụ thể. Nhiều nghiên cứu cho rằng NL là khả năng: Cách hiểu của Từ điển Giáo dục học: “Khả năng được hình thành và phát triển, cho phép con người đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực và nghề nghiệp.
NL được thể hiện vào khả năng thi hành một hoạt động, thực hiện một nhiệm vụ” [73]. Theo tác giả Trần Khánh Đức, NL là khả năng tiếp thu, vận dụng một cách hiệu quả tất cả các tiềm năng của con người (kiến thức, kỹ năng, thái độ, sức khỏe, niềm tin.) để hoàn thành công việc hoặc ứng phó với các tình huống, trạng thái khác nhau trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp theo các chuẩn mực nhất định. Theo tác giả Nguyễn Công Khanh, NL là khả năng làm chủ và vận dụng hợp lý các hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ để hoàn thành thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả các vấn đề trong cuộc sống. NL là một cấu trúc động, mở, đa thành phần, đa tầng bậc, bao gồm không chỉ kiến thức, kỹ năng, thái độ mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội.
thể hiện ở tính sẵn sàng hành động trong những hoàn cảnh luôn thay đổi [DT, 51]. Như vậy, NL chính là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để giải quyết một tình huống thực tế trong cuộc sống. Do đó, có thể hiểu NL của HS là khả năng kết hợp và vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ để hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống. Như vậy, NL khác với khả năng.
Định nghĩa về NL trong nước quy NL vào đặc điểm, PC, thuộc tính: Cách hiểu của Từ điển Bách khoa Việt Nam: NL là đặc điểm của cá nhân, thể hiện mức độ thành thạo - có nghĩa là có thể thực hiện một cách thuần thục và chắc chắn - một hay một số hoạt động nhất định. Cách hiểu của Từ điển Tiếng Việt: *) NL chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó. *) NL là tiềm năng và khả năng tâm lý, sinh lý giúp con người hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao. Theo nghĩa thứ nhất, NL là một khả năng có thực, được thể hiện qua việc thành thạo một hoặc một số kỹ năng.
Theo nghĩa thứ hai, NL là một tiềm năng sẵn có của người học, giúp họ giải quyết các tình huống thực tế trong cuộc sống. Như vậy, NL vừa là tiềm năng sẵn có, vừa là khả năng được thể hiện thông qua việc giải quyết các tình huống thực tiễn. Cách hiểu từ bình diện Tâm lý học: NL không phải là một thuộc tính tâm lý xuất sắc nào đó mà là tổ hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân [85]. Tác giả Trần Trọng Thủy và tác giả Nguyễn Quang Uẩn: NL là sự kết hợp những đặc điểm 10 riêng biệt của cá nhân phù hợp với những yêu cầu cụ thể của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo thực hiện thành công và có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động đó [85].
Tác giả Nguyễn Minh Quân [70]: NL là sự tổng hợp những đặc điểm, thuộc tính tâm lý riêng biệt của mỗi cá nhân, phù hợp với các yêu cầu và đặc trưng cụ thể của một hoạt động nhất định, nhằm mục đích đảm bảo hoạt động đó đạt được hiệu quả và kết quả cao nhất. Theo tác giả Hoàng Thị Tuyết: NL là sự kết hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động cụ thể, nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao. NL được chia thành NL chung, cốt lõi và NL chuyên môn. Trong đó, NL chung, cốt lõi là NL cơ bản, cần thiết để làm nền tảng phát triển NL chuyên môn.
NL chuyên môn là những NL đặc trưng trong các lĩnh vực cụ thể, ví dụ: NL toán học, NL ngôn ngữ [92]. Tiếp thu quan niệm về NL các nước phát triển, Việt Nam đã xác định, có hai NL lớn là NL chung và NL chuyên môn. NL chung, cốt lõi là những NL được hình thành, phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục như: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo. NL chuyên môn là những NL chủ yếu được hình thành, phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục cụ thể: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, NL thẩm mỹ, NL thể chất.
Như vậy, từ các nghiên cứu, luận án nhận thấy, NL của HS lớp 2 có thể hiểu: NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển dựa trên nền tảng tố chất bẩm sinh và quá trình học tập, rèn luyện, giúp HS có thể thực hiện thành công các hoạt động nhất định, đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.