CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm huy động vốn của ngân hàng thương mại Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2023): “Hoạt động huy động vốn của các NHTM là hoạt động mà trong đó các ngân hàng này tìm kiếm nguồn vốn khả dụng từ các chủ thể khác nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường, hiệu quả của bản thân nó theo đúng các quy định pháp luật”. Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Liên (2022), “huy động vốn là quá trình thu hút, động viên và quản lý những phương tiện tiền tệ trong xã hội nhằm cho vay và thực hiện những nhiệm vụ kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo điều kiện về cơ sở, vật chất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu chi trả khác nhau của ngân hàng”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2024), huy động vốn được hiểu là hoạt động quan trọng của các tổ chức tín dụng nhằm thu hút các nguồn tài chính từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, cấp tín dụng và đầu tư. Cụ thể, các tổ chức tín dụng, bao gồm NHTM, tổ chức tài chính vi mô và các quỹ tín dụng, có quyền huy động vốn thông qua các hình thức khác nhau theo quy định của pháp luật. Do vậy, theo tác giả, huy động vốn là quá trình động viên các phương tiện tiền tệ trong xã hội nhằm cho vay và thực hiện những nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng, đảm bảo điều kiện vật chất để đáp ứng các nhu cầu chi trả khác nhau của ngân hàng. Hay nói cách khác, huy động vốn là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức cá nhân bằng nhiều hình thức để hình thành nên nguồn hoạt động của ngân hàng.
Đặc điểm huy động vốn của ngân hàng thương mại Theo tác giả Nguyễn Thị Phương Liên (2022), huy động vốn của NHTM gồm những đặc điểm chính sau: Một là, huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại Nghiệp vụ huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản, quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động và lợi nhuận của NHTM. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, NHTM tiến hành cho vay phục vụ nhu cầu phát triển sản xuất cho các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương và cả nước. Nghiệp vụ huy động vốn giúp các NHTM chủ 5 động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Mặt khác, khi thực hiện nghiệp vụ huy động vốn, NHTM cần tuân thủ các quy định của pháp luật (như phải hoàn trả gốc lãi cho khách hàng vô điều kiện, tham gia bảo hiểm tiền gửi theo mức quy định, giữ gìn bí mật về số dư và hoạt động tài khoản của khách hàng, tuân thủ các quy định của pháp lệnh về chống rửa tiền, cạnh tranh công bằng với các TCTD khác …).
Hai là, lãi suất huy động vốn của NHTM được xây dựng dựa trên biến động của lãi suất thị trường trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Các NHTM có thể chủ động thỏa thuận mức lãi suất huy động đối với từng khách hàng nhưng phải tuân theo quy định của NHNN trong từng thời kỳ. Các Chi nhánh NHTM thường sẽ được quyền quyết định mức ưu tiên về lãi suất đối với những khách hàng ưu tiên (khách vip) của mình theo số lượng vốn và trần lãi suất mà Hội sở đưa ra đối với khách hàng ưu tiên. Ba là, sản phẩm huy động vốn của NHTM khá đa dạng.
Trên cơ sở các quy định của NHNN, mỗi NHTM sẽ nghiên cứu đưa ra các sản phẩm huy động vốn khác nhau để hướng tới đối tượng khách hàng mình phục vụ, đảm bảo có sự hấp dẫn cạnh tranh được với các NHTM đối thủ đang hoạt động trên cùng phạm vi lãnh thổ. Trên cơ sở nhu cầu vốn của ngân hàng trong từng thời điểm, hội sở của từng NHTM cũng điều chỉnh mức lãi suất huy động của từng sản phẩm huy động vốn, theo từng kỳ hạn huy động vốn để có thể mở rộng hay giảm bớt số vốn cần huy động theo từng kỳ hạn, loại tiền và đối tượng khách hàng. Ngoài ra để tăng cường huy động vốn vào những thời điểm nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng tăng cao thì hội sở sẽ đưa ra những chương trình quà tặng để hút thêm khách hàng gửi tiền vào NHTM. Phân loại huy động vốn của ngân hàng thương mại 1.
Theo thời gian Theo thời gian, huy động vốn của NHTM gồm huy động vốn ngắn hạn, huy động vốn trung hạn và huy động vốn dài hạn. Huy động ngắn hạn: Là hình thức huy động vốn với thời gian từ 12 tháng trở xuống. Được hình thành chủ yếu từ tiền gửi thanh toán của các cá nhân, tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn của dân cư, tiền thu từ việc phát hành kỳ phiếu ngân hàng… Huy động trung hạn: Đây là hình thức huy động vốn qua phát hành các công cụ nợ trung hạn trên thị trường vốn hoặc nhận tiền gửi trung hạn (từ 1 đến 5 năm). Huy động dài hạn: Đây là hoạt động huy động vốn dài hạn của ngân hàng trên thị trường vốn, với nguồn huy động này ngân hàng có thể sử dụng dễ dàng, có tính ổn 6 định cao (từ 5 năm trở lên).
Theo đối tượng huy động vốn Theo đối tượng huy động vốn, huy động vốn của NHTM gồm những loại sau: Huy động vốn từ dân cư: Đây là hình thức ngân hàng huy động nguồn từ các khoản tiền nhàn rỗi của dân chúng và sau đó chuyển đến cho những người cần vốn để mở rộng đầu tư, kinh doanh. Huy động vốn từ các tổ chức kinh tế xã hội: Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản trong ngân hàng. Các doanh nghiệp khi bán được hàng đều gửi tiền vào ngân hàng và thanh toán chuyển khoản hoặc rút ra khi cần. Chu kỳ thanh toán chuyển tiền hay rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau.
Vì vậy, ngân hàng luôn có một khoản tiền lớn có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi. Tuy nhiên, độ lớn khoản tiền này phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ, các tiện ích mà ngân hàng mang lại khi khách hàng sử dụng các dịch vụ. Điều này khiến cho việc huy động vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội gắn liền với việc mở rộng, cải tiến các dịch vụ ngân hàng. Huy động vốn từ các định chế tài chính (ngân hàng và các tổ chức tín dụng, tài chính khác): Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán… Ngoài ra, việc vay lẫn nhau giữa các ngân hàng cũng làm tăng nguồn vốn huy động.
Theo loại tiền Theo tiêu thức phân loại này, huy động vốn chia làm hai loại: Huy động vốn bằng Việt Nam đồng: Là hình thức huy động vốn cơ bản mà các NHTM nhận được, nguồn vốn nội tệ là nguồn vốn chủ yếu đối với các Ngân hàng, phụ thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm. Huy động bằng đồng ngoại tệ: Bên cạnh huy động vốn bằng nội tệ, các ngân hàng còn huy động vốn bằng ngoại tệ, chủ yếu là ngoại tệ mạnh như USD, EUR, JPY, GBP, FRF… Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng như kinh doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế. các NHTM có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn vốn ngoại tệ lớn. Phân loại theo bản chất các nghiệp vụ huy động vốn Hình thức phân loại này là hình thức chủ yếu được các NHTM sử dụng hiện 7 nay.
Phân loại theo nghiệp vụ huy động vốn rõ ràng tạo sự thuận tiện cho ngân hàng khi tiến hành huy động. Các hình thức huy động bao gồm: (1) Huy động vốn qua nghiệp vụ nhận tiền gửi - Huy động tiền gửi không kỳ hạn: Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2023): Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng, có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải đáp ứng yêu cầu rút tiền của người gửi một cách kịp thời, không hạn chế. Đối với loại tiền gửi này ngân hàng sẽ trả mức lãi suất thấp hoặc không trả lãi do tiền gửi không kỳ hạn rất biến động. Tiền gửi không kỳ hạn được áp dụng cho cả tổ chức và cá nhân tuy nhiên trên thực tế người gửi tiền chủ yếu là các tổ chức.
Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loại: + Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán. Đối với loại tiền gửi này, khách hàng không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu để sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng như: Séc, thẻ thanh toán, uỷ nhiệm chi. Người gửi có quyền rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán. Đây là nguồn vốn huy động có chi phí thấp của NHTM.
+ Tiền gửi phi giao dịch: Là loại tiền gửi khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm mục đích bảo đảm an toàn về tài sản, không nhằm mục đích sinh lời hay sử dụng dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Do là tiền gửi không kỳ hạn nên ngân hàng luôn phải đảm bảo có thể đáp ứng kịp thời nhu cầu rút tiền của khách hàng. - Huy động tiền gửi có kỳ hạn: Theo tác giả Phan Thị Thu Hà (2023): “Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi. Do vậy ngân hàng có thể chủ động sử dụng vào mục đích kinh doanh trong thời gian gửi tiền”.
Tiền gửi có kỳ hạn có thể áp dụng cho mọi tổ chức và cá nhân, tuy nhiên trong thực tế người gửi tiền chủ yếu là các tổ chức. Lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng khách hàng sẽ không được sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, mục đích chủ yếu của người gửi là để lấy lãi. - Huy động tiền gửi tiết kiệm.