Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank chi nhánh Hà Tây Chương 4: Một số giải pháp phát triển hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Agribank chi nhánh Hà Tây Kết luận 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan các nghiên cứu trƣớc đây liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu trong nƣớc Võ Đức Toàn (2012), luận án tiến sỹ kinh tế, “Tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của các ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh” luận án đã hệ thống hóa các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại và cho thấy vai trò của tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, đề tài nghiên cứu hệ thống hóa các định hướng phát triển tín dụng của các ngân hàng TMCP đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, đưa ra một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngân hàng.
Nguyễn Văn Lê (2014), luận án tiến sỹ kinh tế, “Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn” luận án đã làm rõ cơ sở lý luận về tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn và đúc kết những bài học phù hợp nhất cho việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế. Đồng thời, phân tích môi trường cho tăng trưởng tín dụng ngân hàng đối với DNNVV Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn; Phân tích và đánh giá thực trạng tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn tại Việt Nam; Tác giả đã đưa một số đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy tín dụng ngân hàng cho DNNVV Việt Nam trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn. Các nghiên cứu trên thế giới Một số nghiên cứu của các tác giả trên thế giới như Hunter, J. (1982) cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng là đồng nhất.
Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng là hai khái niệm khác nhau. Theo Gronroos (1984, Tr.), chất lượng dịch vụ sẽ tác động đến sự hài lòng của khách hàng và tạo nên sự trung thành của khách hàng. Hệ quả là doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, đến lượt nó, sẽ tác động trở lại doanh nghiệp có điều kiện cải thiện hơn nữa chất lượng dịch vụ khách hàng. Nghiên cứu Zeithaml & Bitner (2000), sự hài lòng của khách hàng là thái độ của khách hàng khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ trong khi chất lượng dịch vụ tập trung vào những thành phần cụ thể của dịch vụ.
Nhiều nghiên cứu đã kiểm định và chứng minh mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng (Cronin & Taylor, 1992, tr. Nhưng rất ít nghiên cứu tập trung vào việc kiểm định mức độ giải thích các thành phần chất lượng dịch vụ đối với sự hài lòng của khách hàng, đặc biệt trong những ngành dịch vụ cụ thể (Lassar & Ctg, 2000). Mức độ hài lòng của khách hàng được xem như là kết quả, và chất lượng dịch vụ chính là nguyên nhân. Pairot (2008) định nghĩa sự hài lòng của khách hàng là khả năng của công ty đáp ứng nhu cầu về kinh doanh, tình cảm và tâm lý của khách hàng.
Theo Oliver (1981, trang 27), sự hài lòng của khách hàng là tổng thể trạng thái tâm lý khi mà trải nghiệm tiêu dùng sản phẩm dịch vụ phù hợp với những kỳ vọng trước đó. Sự hài lòng của khách hàng cũng được định nghĩa bởi Hunt (1997, trang 495), là một đánh giá rằng trải nghiệm tiêu dùng sản phẩm dịch vụ tốt ít nhất bằng với những kỳ vọng đạt được trước đó. Thực tế nghiên cứu chỉ ra rằng đầu tư vào sự hài lòng của khách hàng, quan hệ khách hàng và chất lượng dịch vụ sẽ đem lại lợi nhuận và thị phần (Rust và Zahorik, 1993). Nói một cách khác, sự hài lòng của khách hàng dẫn đến lòng trung thành của khách hàng và điều này cũng dẫn đến lợi nhuận cho công ty (Hallowell, 1996).
Nếu như khách hàng hài lòng với dịch vụ chất lượng cao, họ sẽ có khả năng tái sử dụng sản phẩm dịch vụ của công ty, thậm chí mở rộng ra các dòng sản phẩm khác, do đó thị phần có thể được cải thiện. Levesque và McDougall (1996) đã thực nghiệm, khẳng định và củng cố quan điểm cho rằng trải nghiệm khách hàng kém sẽ làm giảm mức độ hài lòng của khách 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hàng và cơ hội để giới thiệu các dịch vụ khác sẽ bị giảm đi. Các nghiên cứu trước đã chỉ ra mối liên hệ lớn giữa mức độ chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng (Anderson và Sullivan, 1993). Chất lượng dịch vụ được thừa nhận như là một trong những yếu tố cơ bản của sự hài lòng khách hàng (Parasuraman et al.
Tuy nhiên, có nhiều tranh luận về việc liệu sự hài lòng của khách hàng có phải là tiền thân cho chất lượng dịch vụ tốt hay không (Parasuraman et al., 1985 và Bitner et al., 1990 hay Anderson và Sullivan, 1993). Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng sự hài lòng chịu ảnh hưởng bởi không chỉ nhận thức về chất lượng dịch vụ mà còn bởi những nhận thức về chất lượng sản phẩm và các yếu tố giá cả, cũng như các yếu tố về cá nhân (Zeithaml và Bitner, 2000). Ví dụ, sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ ngân hàng sẽ là một khái niệm rộng hơn và chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi những nhận thức về chất lượng sản phẩm (như nhiều lựa chọn tiền gửi cho khách hàng), giá cả của sản phầm (ví dụ như chi phí tính bởi các ngân hàng hoặc tỷ giá của các ngân hàng tiền gửi khác nhau), các yếu tố cá nhân chẳng hạn như trạng thái cảm xúc của khách hàng. - Sakalya Venkata Seshaiah và Vunyale Narender (2007) trong một cuộc nghiên cứu của họ về “ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng đối với ngân hàng bán lẻ”.
Nghiên cứu khảo sát 1.000 khách hàng dựa trên bảng câu hỏi làm công cụ khảo sát, thông qua những cuộc phỏng vấn khách hàng không chính thức và những thông tin sẵn có trên mạng Internet. Trong quá trình nghiên cứu, các tác giả đã xác định được các yếu tố và phân tích yếu tố nào trong số các yếu tố này các tác động lớn nhất, vừa phải và ít có tác động làm tiêu chí lựa chọn. Nghiên cứu nhằm mục đích phân tích hành vi khách hàng trong việc lựa chọn ngân hàng bán lẻ. Việc tiếp xúc, trao đổi với các khách hàng tham gia khảo sát ở bất kỳ địa điểm nào có thể nhằm để hiểu rõ tâm lý khách hàng.
Có 15 nhân tố đã được xác định và được sắp xếp tương đối theo thứ tự quan trọng là: 1. Tính an toàn của các khoản tiền gửi 2. Quy mô và sức mạnh 3. Tính chính xác 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Chất lượng chung của các dịch vụ 5. Tốc độ thực hiện 6. Mức độ an ninh của ngân hàng 8. Sự lịch thiệp của nhân viên 9.
Giá cả và phí dịch vụ 10. Ấn tượng chung của công chúng 12. Ấn tượng của các ngân hàng đồng cấp 13. Sự đổi mới (cấu trúc) 14.
Mối quan hệ với nhân viên 15. Quảng cáo và tính phổ biến trong cộng đồng. Theo kết quả thu thập, dựa trên nghiên cứu thực tế, 06 nhân tố đầu tiên có tác động lớn nhất, 04 nhân tố tiếp theo đóng vai trò tương đối quan trọng, 05 nhân tố còn lại không có nhiều ảnh hưởng. Do đó, thông qua việc định hướng khách hàng, các ngân hàng bán lẻ cần tái cấu trúc các hoạt động ngân hàng để thực hiện sứ mệnh đã đề ra.
Trong thị trường vốn hóa và cạnh tranh, quyền lực thuộc về khách hàng. Vì vậy, các đối tượng tham gia vào lĩnh vực ngân hàng phải thay đổi quan điểm và cần nhận ra “khẩu vị” của KH bán lẻ. Khái quát chung về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Ở Việt Nam những năm gần đây, khi vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng được khẳng định thì những quan điểm về tiêu thức xác định loại hình doanh nghiệp này cũng không thống nhất.
Ngày 20/06/1998 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành công văn số 681/CP-KNT quy định tiêu chí tạm thời xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động bình quân dưới 200 người. Theo nghị định 90/NĐ-CP/2001 của Chính phủ ban hành ngày 23/11/2001 thì doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động bình quân hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của từng ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp, chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng cả hai tiêu chí vốn và lao động hoặc một trong hai tiêu chí nói trên”. Ngày 30/6/2009, căn cứ vào đặc điểm, tình hình thực tế của đất nước cùng với yêu cầu bức thiết trong vần đề hỗ trợ phát triển đối với các DNNVV, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2009/NĐ- CP ( thay thế Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 23/11/2001) về “ Trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”.
Theo đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.