Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Phòng giao dịch Hoàng Cầu Chương 3: Giải pháp phát triển cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam — Phòng giao dịch Hoàng Cầu CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE PHAT TRIEN CHO VAY KHACH HANG DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Khái quát về cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hang thương mai 1. Khái niệm về cho vay khách hàng doanh nghiệp cia NHTM Là hoạt động trung tâm của tín dụng, nên ngoài mang những tính chất đặc trưng của tín dụng như: “Cấp cho khách hàng một khoản tiền trên cơ sở hoàn trả cả lãi và gốc” (theo Quốc hội, 2010) thì cho vay cũng phải có những đặc điểm riêng có khác để phân biệt với chiết khâu, mua trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh hay bao thanh toán.
Rose (2003) dựa trên việc phân tích hệ thống pháp luật Anh Mỹ đã cho rằng: “Cho vay một khoản nợ được cung cấp bởi một thực thé (tổ chức hoặc cá nhân) cho một thực thể khác thông qua các giấy nợ, trong đó quy định rõ ràng về mức lãi suất, thời hạn trả nợ”. Do đặc trưng của các nước theo hệ thống pháp luật này đều có nền kinh tế phát triển, hệ thống ngân hàng khi cho vay dựa trên kết quả thẩm định được mua sẵn của các công ty xếp hạng tín nhiệm nên gần như không cần thấm định hồ sơ, vì vậy quan điểm này chỉ tập trung vào khả năng trả nợ của khách hàng. Tất nhiên, đối với các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thì quan điểm về cho vay này không sai, nhưng rất khó có thể áp dụng. Casu (2013) lại dựa trên hệ thống pháp luật Pháp Đức, và cho rằng: “Cho vay là một hoạt động trong đó một chủ thé cấp cho chủ thé khác một khoản tiền dé sử dung với mục đích nhất định và thời hạn xác định”.
Quan điểm này được các nước theo đạo Hồi hưởng ứng, do không đề cập đến van dé lãi suất của khoản vay — thứ bị cam bởi kinh Koran. Tuy nhiên, quan điểm này cũng bị phê phán là chưa hoàn chỉnh (Miskhin, 2014) bởi trên thực tế, có những giao kết dân sự đã được xác định là cho vay rồi nhưng chưa giải ngân, tức là chưa cấp cho khách hàng một khoản tiền. Như vậy, cần phải có những hướng dẫn cụ thé hơn dé có thể xác định được hoạt động này. Quốc hội (2010, trang 2), sau khi nghiên cứu các hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thé giới, đã cho rằng: “Tín dụng là việc ngân hang cấp hoặc cam kết cap cho khách hàng một khoản tiền với cam kết hoàn trả cả gốc và lãi”.
Là một trong những loại hình của tín dụng nên: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Ngân hàng có thể cho vay băng tiền mặt hoặc chuyên khoản, tiền có thể chuyên tới tài khoản của khách hàng hoặc tài khoản của người bán hàng cho khách hàng. Trong luận văn, tác giả sẽ sử dụng khái niệm này dé nghiên cứu các van đề tiếp theo. Từ các quan điểm trên, có thể cho rằng: “Cho vay khách hàng doanh nghiệp là một loại hình cho vay (tức là có cam kết hoàn trả không điều kiện cả gốc va lãi) dành riêng cho khách hàng là doanh nghiệp, đáp ứng đầy đủ điều kiện về giao dịch dân sự trên thị trường”.
Đặc điểm cho vay khách hàng doanh nghiệp cia NHTM Là một hoạt động chủ yếu của các ngân hàng thương mai tại các nước đang phát triển, và đóng vai trò quan trọng trong tại các nước đang phát triển. Theo Phan Thị Thu Hà (2013), cho vay khách hàng doanh nghiệp mang những đặc điểm chung nhât như sau. Thứ nhất, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang lại một phần lớn lợi nhuận cho các ngân hang thương mại — bởi hoạt động này chiếm khoảng 35 — 65% tỉ trọng tài sản của ngân hàng. Đối với đa phần các ngân hàng chưa phát triển các hoạt động ngân hàng điện tử thì đây là một hoạt động truyền thống, chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động tín dụng, đồng thời cũng là đa phần trong các hoạt động sử dụng vốn, bên cạnh các hoạt động khác như đầu tư, kinh doanh các loại chứng khoán.
Ngoài ra, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang còn là nền tảng dé thúc đây các hoạt động ngân hàng đầu tư và ngân hàng bán lẻ khác, do tất cả các hoạt động này đều phát sinh từ nền kinh tế, do những khác biệt trong cách vận hành nên cần trước hết là vốn dé hoạt động — xuất phát từ hoạt động huy động vốn hoặc lợi nhuận giữ lại — đa phan từ cho vay. Trong tất cả những ngân hàng lớn trên thế giới — trừ những ngân hàng mang tính chất chuyên doanh, tất cả đều có hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang làm nền tảng. Thứ hai, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang có số lượng khách hàng và sản phẩm rộng lớn. Đối tượng vay vốn tại các doanh nghiệp từ lớn, đến vừa, nhỏ và siêu nhỏ có nhu cầu vay von dé thực hiện các mục đích phục vụ sản xuất kinh doanh.
Những đối tượng này có số lượng rất lớn, chịu nhiều tác động của môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhưng không thường xuyên, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tình hình kinh tế - xã hội, thu nhập, tập quán, thói quen tiêu dùng,. Để phục vụ tốt hơn những đối tượng này, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang của ngân hàng cũng rất đa dạng, trải rộng từ cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức, cho vay luân chuyền, cho vay thấu chi. dé phù hợp với từng khách hàng, từng môi trường và từng nền văn hóa cũng như phân khúc thị trường mà ngân hàng muôn hướng dén. Thứ ba, hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang hàm chứa nhiều rủi ro cho ngân hàng.
Vì chiếm tỉ trọng tương đối lớn trong hoạt động sử dụng vốn tại ngân hàng (khoảng 35% - 65% tại các nước đang phát triển - theo Phan Thị Thu Hà (2013), trang 287), trong đó mỗi khoản vay đều có những rủi ro nhất định khi khách hàng có thé không trả nợ đúng va đủ theo thời hạn trên hợp đồng — xuất phát từ việc sử dụng vốn sai mục đích, thay đổi môi trường kinh doanh hay từ những van đề ban thân ngân hàng hay người vay vốn — nên khi nhân lên, khả năng xảy ra rủi ro từ các hoạt động này rất lớn. Do đó, tất cả các ngân hàng trung ương trên thế giới đều kiểm soát rất chặt chẽ các hoạt động cấp cho vay thông qua yêu cầu dự phòng rủi ro tín dụng, yêu cầu về đảm bảo thanh khoản như tỷ lệ vốn ngắn hạn dùng cấp cho vay trung và đài hạn. Thứ tư, thời hạn và lãi suất cho vay khách hàng doanh nghiệp mang rất khác biệt đối với các chủ thé khác nhau trong nền kinh tế, trải dài từ ngăn hạn đến dài hạn — phù hợp với nhu cầu vay vốn dé sản xuất hay kinh doanh — hay đầu tư phát triển của các doanh nghiệp; lãi suất từ 0% đến mức đủ bù đắp toàn bộ rủi ro, chi phí hoạt động và đảm bảo chi phí huy động vốn đầu vào cho ngân hàng. Da phan các ngân hàng đều có thể tự quyết định thời gian và lãi suất của khoản vay dựa trên khả năng định giá của chính mình, song một số ngân hàng vẫn tài trợ những khoản mục dựa trên định hướng của chính phủ, vừa phù hợp với mục tiêu đa dạng hoạt động kinh doanh, vừa thực hiện chính sách phát triên của nhà nước.
Cuối cùng, đa phần các hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp mang đều yêu cầu tài sản đảm bảo dé đảm bảo giảm thiểu rủi ro tín dụng, đồng thời có thé bù đắp rủi ro có thé xảy ra cho ngân hàng. Tài sản đảm bảo thường là bất động sản của người đi vay, hoặc sẽ hình thành từ vốn vay, cũng có thé là các khoản đảm bao chi trả từ phía chính phủ, ngân hàng khác hoặc các tổ chức tài chính trung gian trên thị trường. Đối với một số dự án đặc thù có khả năng trả nợ cao, ngân hàng có thể xem xét cho vay tín chấp. Tất cả những tài sản đảm bảo mà ngân hàng chấp nhận đều được phân thành 2 loại là thế chấp và cầm có, sau đó được đăng ký giao dịch đảm bảo để ngân hàng có thé bán được những tài sản này khi khách hàng không trả đủ cả vốn và lãi khi đáo hạn — hoặc ngân hàng phải thu vốn trước hạn do khách hàng sử dụng vốn sai mục đích hoặc có những dâu hiệu khác về việc không trả được nợ.
Phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM Có nhiều cách phân loại cho vay khách hàng doanh nghiệp mang tùy thuộc vào mục đích của nhà quản lý kinh tế. Việc phân loại cho vay là cần thiết, nó giúp các nhà quản lý ngân hàng cân đối giữa nguồn vốn huy động với sự dụng vốn, đảm bảo an toàn và tăng khả năng sinh lời cho ngân hàng. Việc cho vay theo hình thức nào, loại hình cho vay nào là phụ thuộc và sự đánh giá, thâm định của ngân hàng cũng như sự thỏa thuận của hai bên. Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì có thể phân chia theo thời gian, theo đối tượng, theo tài sản đảm bảo hoặc các loại khác tùy từng ngân hàng.
Theo thời gian Cho vay ngắn hạn: Là loại cho vay có thời hạn dưới một năm. Cho vay ngắn hạn nhằm tài trợ cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Ngân hàng có thé áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc theo hạn mức, có hoặc không cần tài sản đảm bảo, dưới hình thức thấu chi, chiết khấu hoặc luân chuyên Cho vay trung hạn: Là loại cho vay có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60 tháng — một số ngân hàng có thé phân loại trên 72 tháng hoặc 84 tháng.