phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm có 3 chƣơng nội dung: Chƣơng 1. GIÁO DỤC HUYỆN CHIÊM HOÁ TRƢỚC NĂM 1991 Chƣơng 2. GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHIÊM HOÁ TỪ NĂM 1991 ĐẾN NĂM 2000 Chƣơng 3. GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ HUYỆN CHIÊM HOÁ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 GIÁO DỤC HUYỆN CHIÊM HOÁ TRƢỚC NĂM 1991 1.1 Khái quát huyện Chiêm Hoá 1.1 Vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên.
Là một huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, Chiêm Hóa mang đậm những nét đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam. Phía bắc Chiêm Hóa giáp huyện Na Hang (tỉnh Tuyên Quang), phía nam giáp huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang), phía đông giáp huyện Chợ Đồn (Bắc Kạn); phía tây giáp huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) và huyện Bắc Quang (tỉnh Hà Giang ). Huyện lị đặt tại thị trấn Vĩnh Lộc, cách tỉnh lị Tuyên Quang 67km về phía bắc. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 1.460,60km2; trong đó có 10.828 ha đất sản xuất nông nghiệp , 12.235,6 ha đất lâm nghiệp.
Là huyện miền núi , địa hình Chiêm Hóa bị chia cắt bởi nhiều dãy núi lớn. Nét chung của địa hình là sự xen kẽ không đều núi đá vôi và núi đất, các dải núi cao và vùng đồi đất có độ cao trung bình. Giữa các vùng đồi núi đó là các thung lũng, tuy không rộng lớn nhƣng đất đai khá mầu mỡ, thuận lợi cho việc xây dựng các điểm dân cƣ và phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp. Chiêm Hóa có nhiều dãy núi cao: Dãy núi Phia Choong (thuộc địa phận xã Bình An) cao 1.
Đị a hì nh không bằng phẳng nhƣ vùng đồng bằng , lại có nhiều đồi núi ca o là một trở ngại cho việc xây dƣ̣ng cơ sở hạ tầng , giao thông đi lại và phát triển giáo dục trên địa bàn huyện. Huyện Chiêm Hóa có khá nhiều con suối nhỏ đƣợc phân bố tƣơng đối đều khắp. Là huyện miền núi , hệ thống sông , suối ở Chiêm Hoá có độ dốc trung bình 250 và giảm dần xuống phí a nam; các con suối, ngòi đều đổ dồn về phía sông Lô và sông Gâm. Dòng sông lớn nhất của huyện là sông Gâm , độ dài 40km.
Các con suối lớn, nhƣ: Ngòi Quẳng (xã Xuân Quang), Ngòi Nhụng (xã Yên Nguyên, Hoà Phú), Ngòi Đài (xã Yên Lập)… cùng nhiều khe nhỏ khác với tổng chiều dài khoảng 317km tạo thành một nguồn thuỷ sinh phong phú cung cấp nƣớc, thuỷ sản phục vụ đời sống, sản xuất của nhân dân và là con đƣờng vận tải khá quan trọng. Bắc qua các con suối, khe ấy phần lớn là cầu tre tạm bợ , không đáp ƣ́ng đƣợc nhu cầu đi lại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 của nhân dân trong vùng. Vào mùa mƣa từ tháng 4 đến tháng 8, nƣớc lũ dâng cao , các dòng suối nƣớc chảy xiết , gây nhiều khó khăn và nguy hiểm cho học sinh khi tới trƣờng. Là huyện miền núi , đị a hì nh cao hiểm trở , nhiều suối, khe chia cắt nên việc đảm bảo giao thông ở Chiêm Hóa gặp nhiều khó khăn , đặc biệt là giao thông đến các xã vùng sâu, vùng xa.
Đƣờng 109 tƣ̀ Km31 chạy qua Chiêm Hóa lên Na Hang là đƣờng giao thô ng huyết mạch trên đị a b àn huyện. Ngoài ra còn có Đ ƣờng 185 tƣ̀ trung tâm thị trấn Vĩ nh Lộc đi xã Vinh Quang , Kim Bình, Đƣờng 188 tƣ̀ thị trấn Vĩnh Lộc tới xã Thổ Bình , Đƣờng 187 tƣ̀ Yên Lập sang C hợ Đồn… Chiêm Hóa có 127km đƣờng liên huyện cùng với hệ thống các đƣờng liên xã , đƣờng mòn , tạo thành một mạng lƣới giao thông phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong huyện và phát triển kinh tế, xã hội. Do đặc điểm đị a hì nh có nhiều núi cao , nên các tuyến đƣờng giao thông có nhiều đèo, dốc, nhiều khúc cua. Vào mùa mƣa thƣờng xảy ra lũ quét làm sạt lở, hƣ hại đƣờng sá gây ách tắc giao thông.
Tình trạng đócũng gây khó khăn choviệc phát triển giáo dục củahuyện, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa. Địa hình huyện Chiêm Hóa bị chia cắt bởi nú i và sông nên cƣ dân sống rải rác ở những thung lũng , sƣờn núi, ven sông, suối. Cũng do đó, việc đến trƣờng của học sinh cũng nhƣ việc phân côn g giáo viên đến các khu vực dân cƣ gặp không í t khó khăn, đặc biệt là vào mùa mƣa lũ. Diện tích rộng, dân cƣ thƣa nên lớp học sẽ thiếu học sinh , dẫn đến tì nh trạng lãng phí về cơ sở vật chất , thiết bị dạy học cũng nhƣ biên chế giáo viên.
Chiêm Hóa là huyện nằm trong khu vƣ̣c khí hậu nhiệt đới gió mùa , tuần hoàn theo bốn mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình trong năm ở đây là 23,4 C, cao nhất tƣ̀ 330C – 350C, thấp nhất từ 120C – 130C. Lƣợng mƣa trung bình hằng năm khá ổn định, từ 1.700mm, lƣợng mƣa chủ yếu tập tru ng vào mùa hè chiếm tƣ̀ 80% - 90% lƣợng mƣa cả năm, độ ẩm trung bình là 84%. Ở Chiêm Hóa hằ ng năm từ tháng 4 đến tháng 9, thƣờng có nhiều mƣa và mƣa rào gây ra lũ quét , lở đất làm ách tắc giao thông , cản trở việc đi lại của ngƣời dân và học sinh tới trƣờng.
Mùa đông kéo dài từ tháng 10 năm trƣớc tới tháng 3 năm sau, thƣờng có gió mùa đông bắc gây nên mƣa phùn , sƣơng mù dày đặc khắp núi rƣ̀ng , có nơi còn có sƣơng muối ảnh hƣởng không tốt tới vật nuôi cây trồng và việc học tập của học sinh. Vào những đợt giá rét, nhiệt độ xuống thấp, một số trƣờng phải cho học sinh nghỉ học. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 Có thể thấy bên cạnh những thuận lợi cơ bản , địa hình đồi núi cao với khí hậu khắc nghiệt là một trong nhƣ̃ng khó khăn thƣ̉ thách lớn đối với huyện Chiêm Hóa trong quá trình x ây dƣ̣ng , phát triển kinh tế - xã hội cũng nhƣ phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo.2 Dân cư và các thành phần dân tộc Theo số liệu thống kê năm 2008 của tỉnh Tuyên Quang, dân số huyện Chiêm Hoá là 138. Là huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang, Chiêm Hoá bao gồm 22 thành phần dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó tập trung nhiều nhất là : Tày, Kinh, Dao, Mông, Nùng, Hoa…Mật độ dân số bình quân là 95 ngƣời/km2.716 hộ sống ở vùng nông thôn.1: Các thành phần dân tộc ở Chiêm Hoá (Số liệu năm 2008) Stt Dân tộc Dân số Tỉ lệ % 1 Tày 82.483 1,09 7 Các dân tộc khác 1.185 1 ( Nguồn: Niên giám thống kê tỉ nh Tuyên Quang 2008) Là một huyện miền núi, đất rộng ngƣời thƣa; nơi cƣ trú chủ yếu của nhân dân các dân tộc huyện Chiêm Hóa là các thung lũng , ven núi, ven sông, suối.
Các thành phần dân tộc trên đị a bàn huyện sống xen ke , hòa ̃ đồng với nhau. Dân tộc Tày chiếm hơn 60% dân số ở Chiêm Hoá, là một cộng đồng thuộc ngữ hệ Tày -Thái. Ngƣời Tày Chiêm Hoá sinh sống hầu khắp các đị a bàn trong huyện nhƣng tập trung nhiều nhất ở các xã Thổ Bình , Minh Đức, Xuân Quang, Tân An…. Nguồn sống chính của ngƣời Tày là làm ruộng nƣớc, trồng các loại hoa màu và chăn nuôi… Dân tộc Kinh chiếm số dân đông thứ hai sau ngƣời Tày.
Ngƣời Kinh không sống tách biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác nên mối giao thoa văn hoá với các dân tộc khác diễn ra mạnh mẽ. Tuy nhiên, họ có xu hƣớng định cƣ tại những nơi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 giao thông thuận lợi, nơi trung tâm. Ngƣời Kinh ngoài canh tác lúa nƣớc còn có thế mạnh về chăn nuôi gia súc, gia cầm, thuỷ sản; thủ công nghiệp và buôn bán. Dân tộc Nùng sống tập trung ở xã Trung Hà , Nhân Lý, xen kẽ với ngƣời Tày và ngƣời Kinh.
Nguồn sống chính của ngƣời Nùng là làm ruộng , làm nƣơng rẫy , trồng các loại hoa màu nhƣ: ngô, sắn, khoai… Dân tộc Dao sinh sống theo tƣ̀ng bản xen kẽ cùng các dân tộc khác ở những vùng quanh các chân núi cao. Trƣớc đây, họ có tập quán du canh du cƣ, chủ yếu dựa vào nƣơng rẫy nên cuộc sống thiếu ổn định. Từ khi chuyển sang định canh định cƣ, cuộc sống của họ đã dần ổn định hơn. Nguồn sống chính của họ là làm ruộng, làm nƣơng rẫy và chăn nuôi.
So với các dân tộc khác , ngƣời Mông nhập c ƣ vào Chiêm Hóa muộ n hơn, chủ yếu di cƣ từ Hà Giang , Yên Bái , Bắc Kạn xuống. Trƣớc đây, ngƣời Mông thƣờng có tập quán sống du canh du cƣ trên những triền núi cao. Đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc, nhƣ̃ng năm gần đây ngƣời Mông đã chuyển sang định canh định cƣ để ổn định cuộc sống. Họ thƣờng sống ở những xã vùng sâu , vùng xa nhƣ Tri Phú, Linh Phú.
Nguồn sống chí nh của họ là làm nƣơng rẫy. Ngoài các dân tộc kể trên, ở Chiêm Hoá còn có các dân tộc khác nhƣ: Sán Chay, Sán Dìu, Bố Y, Pà Thẻn…với dân số chiếm khoảng 1% dân số của huyện. Họ sinh sống xen kẽ, hoà đồng cùng các dân tộc khác, nguồn sống chủ yếu cũng là làm ruộng, làm nƣơng và chăn nuôi. Là địa bàn tập trung khá nhiều các thành phần dân tộc, Chiêm Hoá cũng gặp những khó khăn không nhỏ trong phát triển giáo dục do mỗi dân tộc có ngôn ngữ, phong tục tập quán, địa bàn cƣ trú…khác biệt, gây khó khăn trong việc huy động, vận động học sinh tới trƣờng.
Trƣớc đây , khi đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn , đồng bào các dân tộc ở Chiêm Hóa ít quan tâm đến việc học hành của con cái. Nguồn sống chủ yếu của nhân dân các dân tộc trong huyện l à làm ruộng , làm nƣơng rẫy. Do vậy , họ quan niệm cho con đi học về rồi cũng vẫn chỉ làm ruộng , làm nƣơng , ảnh hƣởng không nhỏ tới việc vận động học sinh tới trƣờng. Trên thƣ̣c tế , con em đồng bào các dân tộc huyện Chiêm Hóa đi học hết cấp I cho biết đọc chƣ̃ , biết nhƣ̃ng phép tí nh cơ bản rồi ở nhà phụ giúp công việc gia đình, là hiện tƣợng khá phổ biến.