mở đầu cho thời kỳ thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó thúc đẩy hoạt động kinh doanh và tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nhân có thể tận dụng. - Quản lý ngân quỹ: NHTM cung cấp dịch vụ quản lý ngân quỹ thông qua tài khoản tiền gửi cho các doanh nghiệp và nhiều cá nhân. - Tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ : Đây được coi là một khoản cho vay đặc biệt nhằm đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu của Chính phủ đối với các dự án trọng điểm. - Bảo lãnh : Ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo lãnh cho khách hàng đối với các trường hợp như mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác.
- Cho thuê thiết bị trung và dài hạn - Cung cấp thiết bị ủy thác và tư vấn - Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán - Cung cấp dịch vụ bảo hiểm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Cung cấp các dịch vụ đại lý Ngoài ra còn rất nhiều các dịch vụ khác được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong các hoạt động thanh toán, tiết kiệm và các dịch vụ tài chính khác. Hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa của NHTM * Hoạt động tín dụng của NHTM: Cho vay là hoạt động thường đóng vai trò chủ chốt trong viêc tạo lợi nhuận cho một NH. Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN (Thông tư 39) của Ngân hàng Nhà nước có hiệu lực từ ngày 15/03/2017 đã quy định: “ cho vay là một hình thức của cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích nhất định trong thời gian nhất định theo sự thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi ”. - Phân loại hoạt động cho vay: Có rất nhiều tiêu thức để phân loại hoạt động cho vay, đối với các NHTM ở Việt Nam hiện tại chúng ta phân loại theo các hình thức sau: - Phân loại theo thời gian : + Cho vay ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống + Cho vay trung hạn: từ 1 năm đến 5 năm + Cho vay dài hạn: Trên 5 năm - Phân loại theo tài sản đảm bảo: Bằng uy tín khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản.
- Phân loại theo đối tượng khách hàng: + Đối tượng khách hàng có thể là đơn vị kinh doanh có vốn chủ sở hữu lớn như các DNNN, Tổng công ty. , vốn chủ sở hữu nhỏ như các DNNVV , hộ cá LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thể + Đối tượng khách hàng cũng có thể là người tiêu dùng : bao gồm cá nhân và các hộ gia đình. - Phân loại theo thành phần kinh tế: + Cho vay đối với Kinh Tế Nhà Nước + Cho vay đối với Kinh Tế Tư Nhân + Cho vay đối với Kinh Tế có vốn đầu tư nước ngoài. - Phân loại theo phương thức cho vay đối với các DNNVV: Một số hình thức cho vay được quy định riêng nhằm tạo điều kiện thuận lợi giúp các DNNVV phát triển sản xuất kinh doanh, bao gồm: + Cho vay từng lần : là hình thức cho vay phổ biến của NHTM đối với khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không được cấp hạn mức thấu chi mà điển hình là các DNNVV.
Các doanh nghiệp này thường có nhu cầu vốn thời vụ hay mở rộng sản xuất kinh doanh đặc biệt thì mới vay ngân hàng, tức là nguồn vốn vay chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: Áp dụng đối với những khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên để phục vụ cho sản xuất kinh doanh, có uy tín trong quan hệ tín dụng với ngân hàng. + Cho vay đầu tư dự án : Đây là loại hình cho vay mới xuất hiện ở Việt Nam, theo đó các dự án đầu tư để phát triển sản xuất kinh doanh, cơ sở hạ tầng,dịch vụ đời sống. sẽ được các ngân hàng cấp tín dụng với thoả thuận phù hợp với dự án đầu tư.
Mức cho vay = Tổng nhu cầu vốn của dự án - Vốn tự có của chủ dự án – Vốn khác (nếu có) Thời hạn vay = thời gian xây dựng cơ bản + thời gian trả nợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Lãi suất cho vay: Lãi suất của mỗi hợp đồng vay sẽ được thống nhất với sự thỏa thuận của hai bên căn cứ trên quy định của tổng giám đốc NHNT Việt Nam về lãi suất cho vay. + Cho vay hợp vốn: Đối với các khách hàng có nhu cầu vốn lớn quá khả năng đáp ứng của một NHTM hay dự án có khả năng đem lại rủi ro quá cao đối với một ngân hàng thì hình thức cho vay hợp vốn có thể khắc phục được những nhược điểm đó. + Cho vay trả góp: Chủ yếu áp dụng cho cá nhân và hộ gia đình nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. + Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : Căn cứ vào nhu cầu, uy tín của khách hàng, ngân hàng cam kết sẵn sàng đảm bảo cho khách hang vay vốn trong phạm vi hạn mức giới hạn tín dụng nhất định.
Đối với ngắn hạn : Hạn mức tín dụng ngắn hạn = Nhu cầu vốn lưu động kế hoạch- (Nguồn vốn kinh doanh ngắn hạn + Nguồn vốn coi như tự có + Nguồn vốn khác) Đối với dài hạn: Hạn mức tín dụng thể hiện % vốn tín dụng của ngân hàng tham gia vào công trình hay dự án đầu tư Hạn mức tín dụng trung dài hạn = Tổng dự toán chi phí - Nguồn vốn đầu tư tự có + Cho vay thông qua thẻ tín dụng + Cho vay theo hạn mức thấu chi : Nghiệp vụ thấu chi đang ngày càng trở nên phổ biến trong hoạt động ngân hàng hiện đại, nó cho phép chủ tài khoản có thể chi trội hơn số dư tiền gửi thanh toán của mình trong một khoảng thời gian nhất định với mức lãi suất khá thấp. Mỗi khách hàng sẽ được cấp một giới hạn thấu chi riêng căn cứ vào số dư tiền gửi của khách hàng, quy định của từng ngân hàng và theo thỏa thuận giữa hai bên. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Như vậy, đối với từng loại khách hàng cụ thể, các ngân hàng có thể chọn ra phương thức cho vay phù hợp nhất có lợi cho cả ngân hàng và các doanh nghiệp trong việc cung cấp nguồn vốn nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với các DNNVV hiện nay thì hình thức cho vay từng lần vẫn là phổ biến nhất.
* Vai trò của hoạt động cho vay của ngân hàng đối với DNNVV: Cũng như ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, các DNNVV của Việt Nam cũng thường xuyên đối mặt với khó khăn lớn nhất chính là vấn đề vốn, việc tiếp cận với nguồn vốn Ngân hàng đem lại cho họ rất nhiều lợi ích, cụ thể có thể kể đến: - Vốn vay ngân hàng hỗ trợ cho các DNNVV tồn tại và phát triển : Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa chủ yếu được hình thành từ các nguồn như: Vốn tự có, vốn vay, thuê mua … Trong đó thì vốn tự có thường chiếm tỉ lệ rất nhỏ (chỉ khoảng 5-10%), chính vì vậy, vốn vay Ngân hàng được coi là nguồn tài trợ đắc lực giúp cho DNNVV có thể tồn tại và phát triển một cách bền vững. - Vốn vay ngân hàng là một lựa chọn để DN xây dựng cơ cấu vốn tối ưu của mình : Đối với các doanh nghiệp có khả năng, hoạt động kinh doanh hiệu quả thì nguồn vốn vay ngân hàng có thể là một lựa chọn tối ưu đề tìm kiếm cơ hội đầu tư với chi phí vốn thấp hơn. Bên cạnh đó, nhờ vào nguồn vốn này, các doanh nghiệp có thể tránh được một phần thuế thu nhập do lãi là một trong những khoản mục dùng để tính thuế thu nhập. - Giúp các DNNVV nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng giao lưu, hội nhập với thế giới : Với nguồn vốn vay của các ngân hàng, DNNVV có cơ hội để nhập khẩu các thiết bị máy móc hiện đại, từ đó nâng cao được năng suất lao động, cải thiện chất lượng sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh với các doanh nghệp trong nước và tiến tới xuất khẩu ra thị trường thế giới.
- Nắm bắt các cơ hội kinh doanh trên thị trường, Chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh theo chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và chiến lược công nghiệp hoá - hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân : Đối với từng thời kỳ cụ thể mà các doanh nghiệp có thể được hưởng lợi từ cơ chế khuyến khích phát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 triển kinh doanh của nhà nước và chính phủ. Dựa vào những chủ trương đó, các ngân hàng cũng đưa ra các ưu đãi riêng có giành cho các DNNVV. Chất lƣợng tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) của NHTM 1. Chất lƣợng và quản lý chất lƣợng tín dụng: - Chất lượng tín dụng được thể hiện ở sự thoả mãn nhu cầu vay vốn của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
- Chất lượng tín dụng đối với các DNNVV được thể hiện thông qua các số liệu về tổng dư nợ, từng khoản vay riêng của doanh nghiệp, cơ cấu dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu. Ngoài ra thì các chỉ tiêu thu lãi và lợi nhuận cũng ít nhiều phản ánh chất lượng của các khoản cho vay. - NHTM bỏ vốn của mình ra và mong muốn thu được lợi nhuận và thu hồi vốn. Như vậy để đảm bảo chất lượng cho các khoản cho vay đối với Ngân hàng là một nhu cầu cấp thiết.
Đặc biệt đối với các NHTM ở Việt nam hiện nay là một chủ thể kinh doanh độc lập, tự kiếm lợi nhuận lời ăn lỗ chịu, chịu trách nhiệm với khách hàng, với NHNN. Do vậy mà Ngân hàng không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế phải thoát khỏi tư tưởng bao cấp, tư duy về nền kinh tế thị trường còn nhiều hạn chế, do đó việc làm ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn.