CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về thẻ tín dụng 1. Lịch sử hình thành và phát triển thẻ tín dụng Xuất phát từ thói quen cho khách hàng mua chịu của các chủ tiệm bán lẻ dựa trên uy tín của khách hàng đối với các tiệm này, năm 1914 chiếc thẻ đầu tiên trên thế giới xuất hiện, cung cấp cho khách hàng đặc biệt của mình dịch vụ thanh toán trả chậm bởi tổ chức chuyển tiền của Mỹ Wesstern Union. Vào năm 1950, Frank Mc Namara và Ralph Schneider, hai doanh nhân người Mỹ, đồng thành lập ra Diner’s Club sau một lần đi ăn ở nhà hàng và quên không mang theo tiền mặt.
Chính việc phải cam kết thanh toán sau đã gợi nên ý tưởng kinh doanh thẻ đối với Frank MC Namara.Tấm thẻ tín dụng đầu tiên, được làm bằng Plastic đã ra đời từ đó. Tháng 9-1958, Bank of America phát hành BankAmeriCard, loại thẻ tín dụng hiện đại thành công đầu tiên, trên cơ sở đó đã hình thành hệ thống thanh toán Visa.Năm 1966, bản quyền sản xuất thẻ BankAmeriCard được chuyển giao cho một loạt các ngân hàng khác. 14 ngân hàng hàng đầu của Mỹ do không muốn “núp bóng” Bank of America (khi đó đã trở thành thủ lĩnh trong lĩnh vực này) đã thành lập Interbank, một tổ chức mới với chức năng là đầu mối trao đổi các thông tin về giao dịch thẻ. Ngay sau đó, vào năm 1967, 4 ngân hàng bang California đổi tên từ Bank Card Association thành Western State Bank Card Association và liên kết với Interbank cùng nhau tung ra loại thẻ MasterCharge, tiền thân của loại thẻ MasterCard nổi tiếng ngày nay.
Loại thẻ này phát triển nhanh, khi có thêm Everything Card của Citibank cùng gia nhập vào hệ thống. Năm 1968, ICA bắt đầu chiến lược mở rộng kinh doanh trên phạm vi toàn cầu thông qua việc liên kết với ngân hàng Banco National của Mexico. Sau thời gian đó, ICA tìm kiếm đối tác tại thị trường Châu Âu, cho ra đời thẻ Eurocard. Cũng vào năm 1968, ICA kết nạp thêm thành viên là một số ngân hàng tại Nhật, nhằm từng bước thâm nhập và nắm bắt thị trường Đông á này.
5 Năm 1977, thẻ của ngân hàng Bank of Merica thật sự được chấp nhận trên toàn cầu và thay bởi Bank Mericard bằng tên thẻ VISA. Năm 1979 Marter Charge cũng trở thành một tổ chức thẻ quốc tế lớn có tên là Marter card Ngày nay VISA Card và Marter card là 2 loại thẻ được lưu hành phổ biến nhất trên thế giới. Đến cuối năm 1990, có khoảng 257 triệu thẻ Visa card được lưu hành với doanh thu 354 tỷ USD. Còn Marter Card đến cuối năm 1993 có khoảng 215,8 triệu thẻ chiếm 32 tỷ USD và được lưu hành ở 22 nước trên thế giới.
Thẻ ngày càng được xem là một công cụ thanh toán văn minh, thuận lợi cho giao dịch thương mại. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, thẻ vốn đã tiện lợi nay càng tiện lợi hơn. Với những tiện ích mang lại, thẻ ngân hàng đã và đang trở thành phương tiện thanh toán chủ yếu của mọi tầng lớp dân cư tại các nước phát triển.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại thẻ tín dụng 1. Khái niệm thẻ tín dụng Thẻ tín dụng (Credit card) là phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phương thức mua bán chịu hàng hoá bán lẻ và phát triển gắn liền với sự ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực ngân hàng.
Thẻ tín dụng là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng thanh toán hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dư tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng được cấp. Thẻ tín dụng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động hay còn gọi là hệ thống tự phục vụ ATM. Đặc điểm thẻ tín dụng Với thẻ tín dụng, khách hàng có thể thanh toán hàng hoá dịch vụ, thanh toán tự động các khoản chi tiêu thiết yếu định kỳ như tiền điện, nước, điện thoại, internet, bảo hiểm, trả nợ vay ngân hàng sẽ tạm ứng thanh toán cho đơn vị cung cấp hàng hoá dịch vụ và tiến hành thu hồi khoản tiền này từ khách hàng sau một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và chủ thẻ. Khoảng thời gian kể từ khi thẻ được dùng để thanh toán hàng hoá dịch vụ tới lúc chủ thẻ phải trả tiền cho ngân hàng có độ dài tuỳ thuộc vào từng loại thẻ tín dụng của từng tổ chức thẻ khác nhau.
Nếu chủ thẻ thanh toán 6 toàn bộ số dư nợ vào ngày đến hạn, thời gian này sẽ trở thành thời gian ân hạn và chủ thẻ hoàn toàn được miễn lãi đối với số dư nợ cuối kỳ. Tuy vậy, nếu hết thời gian này mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc thanh toán chưa hết dư nợ cuối kỳ cho ngân hàng thì chủ thẻ sẽ phải chịu những khoản phí và lãi chậm trả.Sau khi thanh toán hết dư nợ phát sinh trong kỳ, hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục như ban đầu.Đây chính là tính chất tuần hoàn của thẻ tín dụng. Ngân hàng và các tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng dựa trên uy tín và khả năng đảm bảo chi trả của từng khách hàng. Khả năng đảm bảo chi trả được xác định dựa trên các tiêu chí như: thu nhập, tình hình chi tiêu, uy tín, mối quan hệ sẵn có với các tổ chức tài chính, tài sản thế chấp.
của khách hàng. Khi sử dụng thẻ, thay bằng tiền mặt, chủ thẻ xuất trình thẻ của mình tại các điểm cung ứng hàng hoá dịch vụ có chấp nhận thẻ để thanh toán. - Tính linh hoạt: Thẻ tín dụng có nhiều loại, đa dạng, phong phú về hạn mức tín dụng của thẻ nên thích hợp với hầu hết mọi đối tượng khách hàng, từ những khách hàng có thu nhập thấp (thẻ thường) cho đến những khách hàng có thu nhập cao (thẻ bạch kim), thẻ cung cấp cho khách hàng độ thoả dụng tối đa, thoả mãn nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng. - Tính tiện lợi: Là một phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt, thẻ cung cấp cho khách hàng sự tiện lợi mà không một phương tiện thanh toán nào có thể mang lại được.
Đặc biệt đối với những người phải đi ra nước ngoài công tác hay du lịch, thẻ có thể giúp họ thanh toán ở gần như bất cứ nơi nào mà không cần phải mang theo tiền mặt hay séc du lịch. Thẻ được coi là phương tiện thanh toán tốt nhất trong số các phương tiện thanh toán phục vụ tiêu dùng trong xã hội hiện đại và văn minh. - Tính an toàn và nhanh chóng: Không tính đến những vấn nạn ăn cắp và làm giả thẻ thanh toán trên toàn cầu hiện nay, có thể nói người sử dụng thẻ tín dụng rất yên tâm về số tiền của mình trước nguy cơ bị mất cắp do móc túi hay trộm cắp. Hơn thế nữa, hầu hết các giao dịch thẻ đều được thực hiện qua mạng kết nối trực tuyến từ cơ sở chấp nhận thẻ hay điểm rút tiền mặt tới ngân hàng thanh toán, ngân hàng phát hành và các tổ chức thẻ quốc tế.
Do đó việc ghi nợ, ghi có cho các chủ thể tham gia quy trình thanh toán được một cách tự động, dẫn đến việc quá trình 7 thanh toán diễn ra rất dễ dàng, tiện lợi và nhanh chóng. Phân loại thẻ tín dụng Phân loại theo đối tượng sử dụng - Thẻ cá nhân: là thẻ được phát hành cho các cá nhân có nhu cầu và đáp ứng được đủ các điều kiện phát hành thẻ. Chủ thẻ chịu trách nhiệm thanh toán các khoản chi tiêu bằng nguồn tiền của bản thân mình. Thẻ cá nhân có 2 loại: Thẻ chính và thẻ phụ + Thẻ chính: do cá nhân đứng tên xin phát hành thẻ cho chính mình sử dụng và cá nhân đó là chủ thẻ chính.
+ Thẻ phụ: chủ thẻ chính xin phát hành thẻ phụ cho người khác sử dụng (chủ thẻ phụ). Chủ thẻ chính chịu trách nhiệm toàn bộ chi tiêu của chủ thẻ phụ. - Thẻ công ty: là loại thẻ tín dụng dùng cho công ty thanh toán trong hoạt động kinh doanh của mình. Công ty đứng tên ký hợp đồng sử dụng thẻ và uỷ quyền cho người đứng tên trong thẻ tín dụng để sử dụng, đồng thời mọi thanh toán liên quan đến thẻ đều do công ty thanh toán với ngân hàng phát hành.
Phân loại theo hạn mức của thẻ - Thẻ thường (Standard card): là loại thẻ tín dụng mang tính phổ thông, được sử dụng rộng rãi trên thế giới, hạn mức tín dụng thấp hơn Gold card. - Thẻ vàng (Gold card): thẻ được phát hành cho những đối tượng uy tín, có khả năng tài chính lành mạnh, có nhu cầu chi tiêu lớn. Hạn mức tín dụng của thẻ này lớn. Ngoài ra còn có thẻ Platinum và thẻ Black có hạn mức tín dụng cao hơn thẻ Vàng và có thể dùng để mua bất cứ món hàng tiêu dùng nào.
Thẻ này được hưởng các dịch vụ tiện ích khác như đặt phòng khách sạn nơi công tác hoặc đặt chỗ ở sân golf, có thể nói là loại thẻ vô cùng tiện lợi cho những người làm công việc kinh doanh điều hành. Phân loại thẻ theo công nghệ sản xuất - Thẻ in nổi (Embossed Card): Là loại thẻ mà trên bề mặt thẻ được khắc nổi các thông tin cần thiết. Ngày nay loại thẻ này ít được sử dụng vì công nghệ in quá thô sơ, dễ bị làm giả (magnetic stripe). - Thẻ từ (Magnetic Card): Là loại thẻ mà các thông tin của chủ thẻ vừa 8 được in nổi ở mặt trước vừa được mã hoá trong băng từ ở mặt sau của thẻ.
Các thông tin này phải đảm bảo chính xác và khớp với nhau.Thẻ từ hiện nay chiếm phần lớn trong tổng số lượng thẻ đang sử dụng trên thị trường. Nhược điểm của thẻ từ là số lượng các thông tin được mã hóa không nhiều, mang tính cố định, khu vực chứa tin hẹp nên không áp dụng được các kỹ thuật mới đảm bảo an toàn cho thẻ. Hơn nữa, các thông tin ghi trong thẻ không tự mã hoá được nên không thể áp dụng kỹ thuật mã hoá an toàn và có thể bị ăn cắp thông tin bằng các thiết bị nối với máy vi tính. - Thẻ thông minh (Smart card/Chip card): Đây là thế hệ mới nhất của thẻ, có đặc tính bảo mật và an toàn rất cao, dựa trên kỹ thuật vi xử lý tin học, gắn với thẻ một chíp điện tử có cấu tạo như một máy tính hoàn hảo.