CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 1.1 Những vấn đề cơ bản về dịch vụ thẻ ngân hàng 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Con người có nhu cầu trao đổi mua bán hàng hóa từ những năm trước công nguyên và các phương thức thanh toán dần dần xuất hiện với hai hình thức cơ bản là thanh toán bằng tiền mặt hoặc không dùng tiền mặt. Phương thức thanh toán không dùng tiền mặt nghe có vẻ mới với người Việt Nam trong những năm gần đây nhưng đã có từ 3000 năm trước Công nguyên. Tuy nhiên một đại diện của phương thức này là chiếc thẻ thanh toán tính từ lúc nó manh nha dưới dạng gỗ cũng chỉ được 200 năm. Chiếc thẻ thanh toán thật sự là một điều kỳ diệu của lịch sử tiền tệ.
Ngành công nghiệp thẻ ngân hàng mới phát triển thật sự trong 25 năm gần đây nhưng thẻ lại có lịch sử lâu đời bắt nguồn từ việc các đại lý bán lẻ cung cấp tín dụng cho khách hàng (mua hàng trước, trả tiền sau). Nhiều đại lý nhỏ không đủ khả năng cung cấp tín dụng cho các khách hàng của họ và điều này tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vào cuộc. Năm 1946, thẻ ngân hàng John Biggins có tên là Charge-it xuất hiện tại Mỹ, đó là một hệ thống tín dụng cho phép các khách hàng thực hiện các giao dịch nội địa tại các đại lý bằng các “phiếu” có giá trị do ngân hàng phát hành. Các đại lý nộp các “phiếu” giao dịch cho ngân hàng Biggins; ngân hàng sẽ thanh toán các giao dịch đó cho các đại lý và thu tiền lại từ các khách hàng.
Đó là tiền đề cho việc phát hành thẻ tín dụng đầu tiên của ngân hàng Franklin National NewYork vào năm 1951. Vào năm 1960, Ngân hàng Bank of America giới thiệu sản phẩm thẻ ngân hàng riêng của mình, BankAmericard. Việc phát triển mạng lưới đại lý và chủ thẻ ngày càng mở rộng trên toàn bộ nước Mỹ. Vào năm 1966, 14 ngân hàng Mỹ liên kết thành tổ chức Interbank (Interbank Card Association-ICA), một tổ chức mới có khả năng trao đổi thông tin các giao dịch thẻ tín dụng.
Vào năm 1967, bốn ngân hàng California đổi tên từ California Bankcard Association thành Western States BankCard Association -6- (WSBA). WSBA mở rộng mạng lưới thành viên với các tổ chức tài chính khác ở phía tây nước Mỹ. Sản phẩm thẻ của tổ chức WSBA là MasterCharge. Vào cuối thập niên 1960, nhiều tổ chức tài chính đã trở thành thành viên của MasterCharge và đủ sức cạnh tranh với BankAmericard.
Vào năm 1968, Interbank mở rộng thành viên ra khỏi phạm vi nước Mỹ, liên kết với các tổ chức tài chính châu Âu hình thành thẻ Eurocard. Thành viên đầu tiên của Nhật tham gia vào tổ chức Interbank vào năm 1968. Năm 1977, BankAmericard trở thành Visa International (có trên 1,2 tỷ chủ thẻ). Năm 1979, MasterCharge đổi tên thành MasterCard (hiện nay có khoảng trên 500 triệu chủ thẻ).
Sau đó, ngày càng có nhiều các tổ chức tài chính của các nước tham gia vào chương trình thẻ ngân hàng. Ngoài ra có các thương hiệu thẻ nổi tiếng khác trên thế giới cũng được hình thành. Thẻ Diners Club đầu tiên được phát hành vào năm 1949. Amecican Express (Amex) ra đời năm 1958 và thẻ JCB phát hành tại Nhật bản năm 1961.
Bây giờ thì những cái tên như Visa hay Master Card đã nằm trong danh sách thương hiệu nổi tiếng nhất hành tinh. Chúng góp phần làm cho các quốc gia gần nhau hơn. Chỉ với một vài chiếc thẻ trong tay, thế giới loài người dường như đã trở nên nhỏ bé và thân thiện hơn nhiều khi người ta có thể đi từ châu Âu sang châu Mỹ, đến lục địa đen về châu Á mà không bận tâm nhiều về nhu cầu tiền mặt.2 Khái niệm thẻ ngân hàng Thẻ Ngân hàng là một loại công cụ thanh toán hiện đại do ngân hàng phát hành cho khách hàng sử dụng trong thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền tại các ngân hàng đại lý hay tại các máy rút tiền tự động (ATM). Theo “Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng” ban hành kèm theo Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước ngày 15/05/2007 có khái niệm về thẻ ngân hàng như sau: “Thẻ ngân hàng là phương tiện do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thoả thuận”.
Tổ chức phát hành thẻ được giải thích theo Quyết định này tương đối rộng: “Là ngân hàng, -7- tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tín dụng hợp tác, tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng được phép phát hành thẻ theo quy định tại Điều 9, Quy chế này”. Thẻ trong Quyết định này (cũng như trong luận văn) không bao gồm các loại thẻ do các nhà cung ứng hàng hóa, dịch vụ phát hành để sử dụng trong việc thanh toán hàng hóa, dịch vụ cho chính các tổ chức phát hành đó.3 Hình thức của chiếc thẻ ngân hàng Chiếc thẻ nhựa nhỏ gọn như một tấm danh thiếp xinh xắn với kích thước gần như thống nhất là 84 mm x 54 mm x 0. Mặt trước in màu sắc có biểu tượng của tổ chức thẻ, tên và biểu tượng của ngân hàng phát hành thẻ, số thẻ, ngày hiệu lực, tên chủ thẻ được in nổi và có thể có thêm ảnh của chủ thẻ. Mặt sau có các đặc điểm bảo mật, dải băng từ chứa các thông tin tài chính đã được mã hóa, thêm ô chữ ký của chủ thẻ và các quy định ngắn gọn liên quan.
Hầu hết các loại thẻ quốc tế được làm bằng nhựa với kỹ thuật cao, lại được dùng thay thế các hoạt động thanh toán sử dụng tiền mặt nên chiếc thẻ được gọi là tiền nhựa (plastic money).4 Các quy định pháp lý liên quan đến dịch vụ thẻ ngân hàng tại Việt Nam Hành lang pháp lý cho hoạt động thẻ ban đầu chỉ là quyết định số 74/QĐ-NH do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ký ban hành ngày 10/4/1993, qui định “Thể lệ tạm thời về phát hành và sử dụng thẻ thanh toán”. Việc ứng dụng thẻ ở Việt Nam vào thời điểm đó còn bị giới hạn rất nhiều về cơ sở pháp lý, điều kiện kinh tế, hạ tầng kỹ thuật. Trên cơ sở thỏa thuận của Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại thí điểm phát hành thẻ tự xây dựng qui chế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ, tức tính pháp lý chỉ dừng ở mức điều chỉnh “nội bộ” giữa ngân hàng phát hành và chủ thẻ. Sau đó, Ngân hàng Nhà nước đã chính thức ban hành quyết định số 371/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 về “Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng”.
Để củng cố cơ sở pháp lý cho hoạt động kinh doanh thẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, năm 2007, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy các hoạt -8- động phát hành và thanh toán thẻ như: Đề án thanh toán không dùng tiền mặt, Quy định trả lương qua tài khoản, Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng (thay thế Quyết định số 371 cũ), Quyết định về hạn mức số dư đối với thẻ trả trước vô danh; Quy chế cấp, sử dụng và quản lý mã Bin (mã của ngân hàng phát hành thẻ )… Việc ban hành kịp thời các chính sách trên của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đã giúp môi trường kinh doanh thẻ tại Việt Nam từ năm 2007 trở nên thông thoáng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh thẻ hoạt động, đồng thời tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt cho người dân.2 Phân loại thẻ ngân hàng 1.1 Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ 1.1 Thẻ tín dụng (Credit Card): là loại thẻ cho phép chủ thẻ sử dụng một hạn mức tín dụng theo thỏa thuận với tổ chức phát hành (thường là ngân hàng) và chủ thẻ phải thanh toán mức trả nợ tối thiểu vào ngày đến hạn. Đây là loại thẻ được sử dụng phổ biến nhất, được xem là một công cụ tín dụng trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng. Các ngân hàng hay tổ chức tài chính phát hành thẻ tín dụng dựa trên uy tín và khả năng trả nợ của khách hàng. Do đó mỗi đối tượng khách hàng có những hạn mức tín dụng khác nhau.
Thẻ tín dụng có tại Việt Nam cách đây 10 năm nhưng vẫn không phát triển mạnh được vì các ngân hàng rất hạn chế cấp hạn mức tín chấp cho chủ thẻ, thông thường chủ thẻ phải ký quỹ hoặc thế chấp tài sản để đảm bảo cho hạn mức tín dụng được cấp.1 Thẻ ghi nợ (Debit card): là loại thẻ thanh toán liên kết trực tiếp đến tài khoản tiền gửi thanh toán giúp chủ thẻ đáp ứng các nhu cầu chi tiêu tiền mặt, rút tiền mặt hoặc thanh toán. Thường thì thẻ ghi nợ không có hạn mức tín dụng vì nó phụ thuộc vào số dư hiện hữu trên tài khoản của chủ thẻ. Tuy nhiên, trong thực tế thẻ ghi nợ vẫn có thể rút tiền ở mức âm, hay rút thấu chi, như một dịch vụ tín dụng giá trị -9- gia tăng mà các ngân hàng triển khai cho các chủ tài khoản dựa trên cơ sở có tài sản thế chấp, có sự tin cậy nhất định, hoặc thực hiện phương thức trả lương qua tài khoản. Thẻ ATM là một hình thức đầu tiên của thẻ ghi nợ, cho phép chủ thẻ giao dịch trực tiếp qua tài khoản từ hệ thống máy rút tiền tự động (ATM).
Ngoài giao dịch rút tiền mặt, chủ thẻ còn có thể thực hiện nhiều giao dịch tại các ATM như: vấn tin, chuyển khoản, in sao kê, thanh toán hóa đơn, gửi tiền… mà không cần phải đến ngân hàng.3 Thẻ trả trước (prepaid card): Thẻ trả trước là loại cho phép chủ sở hữu gửi, nạp, rút tiền mặt, thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ, sử dụng các dịch vụ khác trong phạm vi giá trị tiền được nạp vào thẻ. Chủ thẻ trả trước không nhất thiết phải có mối quan hệ tài khoản với ngân hàng. Có loại thẻ đòi hỏi xác định danh tính chủ thẻ, cũng có loại vô danh, cho phép dùng một lần hoặc tái nạp (nạp thêm tiền để tăng số dư). Trên thế giới, thẻ trả trước do ngân hàng phát hành khá phổ biến, mà một dạng của nó là CashCard - thẻ tiền mặt.
Khách hàng có thẻ mua thẻ với mệnh giá nhất định và dùng để chi tiêu thay cho tiền mặt.2 Phân loại theo công nghệ sản xuất 1.