mở đầu và cũng là khâu kết thúc của quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá. Trong nền kinh tế có sự trao đôi mua bán hàng hóa thì nhu cầu thanh toán giữa các chủ thể là đương nhiên và luôn cần thiết. Dé có thé tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị sản xuất, dây chuyền công nghệ,. Trong khi đó các cá nhân, hộ gia đình đề có thể tồn tại phải thanh toán tiền mua hàng hóa dịch vụ đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hoặc vui chơi giải trí.
Trước đây hoạt động thanh toán diễn ra dưới hình thức thanh toán bằng tiền mặt khiến các chủ thê trong nền kinh tế mất nhiều thời gian, chỉ phí và không thuận tiện trong thanh toán. Thanh toán qua các ngân hàng có thê giúp khách hàng tiết kiệm thời gian chỉ phí và đây nhanh tốc độ thanh toán. Khi cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng, NHTM đã thực hiện chức năng trung gian thanh toán cho nền kinh tế. Khi thực hiện thanh toán, NHTM sẽ thực hiện trích tiền từ tài khoản của người trả tiền để chuyên sang tài khoản của người được trả tiền.
Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ thanh toán qua ngân hàng càng đa dạng phong phú và được sử dụng nhiều hơn. TTNĐ là cách thức thanh toán tiền hàng hoá, dịch được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chỉ trả chuyền vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong Thông tư 46/2014 thì “dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là các dịch vụ thanh toán” lệnh chi, ủy nhiệm chi; thanh toán nhờ thu, ủy nhiệm thu; chuyển tiền; thu hộ; chi hộ mà NHTM cung ứng cho khách hàng. [L7] Văn bản hợp nhất só 10/2019/VBHN-NHNN ngày 22/02/2019 về thanh toán không dùng tiền mặt thì “Dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt (sau đây gọi là dịch vụ thanh toán) bao gồm dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toán và một số dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng”[19] Dịch vụ TTNĐ của NHTM là dịch vụ thanh toán qua tài khoản ngân hang được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương thức thanh toán dé lay/chuyén tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng ở cùng trong nước hoặc được bủ trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán.
[16] Nội dung của dịch vụ TTNĐ của NHTM bao gồm các hoạt động mở tài khoản thanh toán, cung ứng các phương thức TTNĐ cho khách hàng. NHTM thực hiện quy trình TTNĐ hoàn toàn độc lập với quy trình vận động của hàng hóa và dịch vụ. Hai quy trình này có sự tách biệt cả về thời gian và không gian thực hiện Khi thuc hién quy trinh TTND tiền tệ xuất hiện không phải tiền mặt, mà xuất hiện dưới hình thức bút tệ được ghi chép và bù trừ nợ có trên các chứng từ số sách kế toán Để có thể thực hiện dịch vụ TTNĐ các bên tham gia quá trình thanh toán phải mở tài khoản tại một NHTM. NHTM đóng vai trò quản lý các tài khoản của khách hàng theo yêu cầu của khách hàng NHTM sẽ thực hiện và kết thúc quá trình TTNĐ.2 Vai trò của địch vụ thanh toán nội địa - Đối với nền kinh tế: dịch vụ TTNĐ góp phần làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông, đồng thời đảm bảo dịch vụ thanh toán được diễn ra nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và chính xác.
Hơn thế nữa mọi giao dịch của nền kinh tế nếu được thực hiện qua ngân hàng sẽ góp phần giúp cho cơ quan quản lý nhà nước có thê dễ dàng kiểm soát, tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý. Một nền kinh tế phát triển các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng là xu thế tất yếu mà tất cả các quốc gia cần phải hướng tới bởi sự tiện ích của chúng cũng như để hội nhập nền kinh tế toàn cau. Hoạt động TTNĐ góp phần giảm thấp tỷ trọng tiền mặt trong lưu thông, từ đó có thể tiết kiệm được chỉ phí lưu thông xã hội như: in ấn, phát hành, bảo quản, vận chuyền, kiểm đếm. Mặt khác Hoạt động TTNĐ còn tạo ra sự chuyển hoá thông suốt giữa tiền mặt và tiền chuyển khoản.
Cả hai khía cạnh đó đều tạo điều kiện thuận lợi cho công tác kế hoạch hoá và lưu thông tiền tệ. Hoạt động TTNĐ tạo điều kiện tập trung một nguồn vốn lớn của xã hội vào tín dụng dé tái đầu tư vào nền kinh tế, phát huy vai trò điều tiết, kiểm tra của Nhà nước vào hoạt động tài chính, qua đó kiểm soát được lạm phát. - Đối với ngân hàng: Đề thực hiện dịch vụ TTNĐ các khách hàng đều phải mở tài khoản thanh toán tại NHTM. Điều này giúp cho các NHTM có thê huy động được một lượng tiền gửi không kỳ hạn, góp phần giảm chỉ phí huy động vốn của các ngân hàng Ngoài ra, khi cung ứng dịch vụ TTNĐ cho khách hàng ngân hàng có thể thu được một khoản phí thanh toán.
Từ đó góp phần mở rộng thu nhập cho các ngân hàng. Thực hiện TTNĐ các NHTM có thể gia tăng vị thế và uy tín của mình trên thị trường, giúp khách hàng quen thuộc hơn với thương hiệu. Hơn thế nữa, từ dịch vụ TTNĐ các NHTM có thể mở rộng bán chéo sản phẩm, tiếp cận được với mạng lưới rộng lớn khách hàng, thu thập được nhu cầu của khách hàng. - Đối với khách hàng: việc sử dụng các dịch vụ TTNĐ của ngân hàng sẽ giúp khách hàng thực hiện các giao dịch thanh toán nhanh chóng, tiện lợi, an toàn, chính xác, có thé dé dang truy van thông tin vào bất kỳ lúc nào Khách hàng có thê thực hiện giao dịch vào bất kỳ thời gian nào thông qua các phương tiện thanh toán hiện đại.
Do đó giúp đây nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ lưu thông hàng hóa của khách hàng.LL3 Các loại dịch vụ thanh toán nội dia a, Dịch vụ Mở tài khoản thanh toán Mở tài khoản thanh toán là việc NHTM cung ứng dịch vụ cho khách hàng bằng cách mở tài khoản cho khách hàng đứng tên thụ hưởng và quản lý trên cơ sở ký kết các hợp đồng kinh tế giữa ngân hàng và khách hàng theo đúng quy định pháp lý hiện hành. Theo quy định pháp lý hiện hành chỉ những cá nhân có đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự từ 15 tuổi trở lên mới được mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng. Các trường hợp khác cần phải thực hiện thông qua người giám hộ hoặc người đại diện theo quy định của pháp lý. Khi mở tài khoản thanh toán tại ngân hàng, khách hàng được phép sử dụng tài khoản này dé nộp tiền mặt hoặc rút tiền mặt hoặc sử dung dich vu TTND theo quy định pháp luật.
Đồng thời chủ tài khoản có quyền yêu cầu NHTM phục vụ mình cung cấp các thông tin liên quan đến số dư và các giao dịch trên tài khoản thanh toán. b, Cung ứng dịch vụ thanh toán Tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng, cán bộ giao dịch viên ngân hàng sẽ tư vấn các phương thức TTNĐ phù hợp cho khách hàng lựa chọn. Khách lựa chọn sử dụng một trong những dịch vụ TTNĐ như séc, UNC, UNT, thanh toán thẻ hoặc ngân hàng điện tử,. Sau khi nhận yêu cầu thanh toán của khách hàng, NHTM sẽ cung ứng các dịch vụ thanh toán này cho khách hàng, cụ thể như sau: (1) Thanh toán bằng Séc Séc là “giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là Ngân 10 hàng hoặc tô chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng.” [19] Đây là phương tiện được ra đời đầu tiên trên thế giới và được sử dụng khá rộng rãi ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển.
Các thông lệ quốc tế về thanh toán séc cũng đã được ban hành từ rất sớm vào năm 1931. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng đề điều chỉnh các quan hệ liên quan đến phát hành thanh toán séc ở các quốc gia. Khi thực hiện thanh toán bằng séc khách hàng chỉ có thể thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định khi tờ séc đó còn trong thời gian hiệu lực. Thời gian này phụ thuộc và từng lại séc.
Ngoài ra, séc có thể chuyển nhượng hoặc không thể chuyền nhượng, hoặc có các đặc tính đặc biệt khác tùy thuộc từng loại séc. Tiếp nhận nhu cầu của khách hàng, NHTM sẽ cung ứng các loại séc nhất định như: “Séc chuyên khoản là séc mà người ký phát séc trực tiếp cho người thụ hưởng sau khi nhận được hàng hóa, dịch vụ. Người thụ hưởng séc sẽ nộp tờ séc vào Ngân hàng phục vụ mình để được thanh toán. Ngân hàng phục vụ người thụ hưởng có trách nhiệm chuyền tờ séc tới Ngân hàng phát hành.
Trên cơ sở tờ séc hợp lệ, Ngân hàng phát hành sẽ trích nợ tài khoản của người phát hành, chuyền tới Ngân hàng thụ hưởng để ghi có vào tài khoản của người thụ hưởng séc.” [19] “Séc bảo chỉ là séc đã được tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán xác nhận khả năng thanh toán trước khi người ký phát trao Séc cho người thụ hưởng đề nhận hàng hóa dịch vụ.” [19] Khi khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán bằng séc của NHTM cung ứng sẽ có những ưu điểm và những hạn chế nhất định. *Uu điểm: Séc là một phương tiện thanh toán tiện lợi vì những lý đo sau: Khi sử dụng dịch vụ TTNĐ bàn, khách hàng không cần phải mang theo tiền mặt do vậy đảm bảo thuận tiện, an toàn và giảm chi phí Trong trường hợp séc bị mắt cắp khách hàng cũng không đối mặt với các rủi ro, do để thanh toán được séc cần phải có chữ ký của chủ tài khoản 11 So với các phương tiện thanh toán khác như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi thì thanh toán bằng séc đơn giản và thuận tiện hơn.