Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng tại các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh Thanh Trì. Chương 4: Giải pháp phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh Thanh Trì.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ PHI TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài về phát triển dịch vụ phi tín dụng - Chien-Chiang Lee, Shih-Jui Yang, Chi-Hung Chang [47]: Non- interest income, profitability, and risk in banking industry: A cross-country analysis: Nhóm tác giả đã nghiên cứu tác động của thu nhập ngoài lãi (tức là thu nhập từ các DVPTD) đến lợi nhuận và rủi ro của các NHTM, từ kết quả khảo sát 967 NHTM cổ phần ở Châu Á, nhóm tác giả đã đưa ra kết luận: Các hoạt động ngoài lãi của các NH Châu Á đã làm giảm rủi ro, nhưng không làm tăng lợi nhuận (dựa trên số liệu khảo sát lớn). Cụ thể, khi xem xét chuyên môn ngân hàng và mức thu nhập của một quốc gia, kết quả trở nên phức tạp: Khi hoạt động ngoài lãi giảm, lợi nhuận và rủi ro tăng lên đối với các NH chuyên về tiết kiệm, đối với từng loại hình NH như NH hợp tác xã hay NHTM đầu tư thì các tác động cũng khác nhau.
Mặt khác, ở các nước có thu nhập cao các hoạt động ngoài lãi tăng nguy cơ rủi ro cho các NH, trong khi ở các nước thu nhập trung bình hoặc thấp thì hoạt động này làm tăng lợi nhuận hoặc giảm thiểu rủi ro cho các NH. Kết luận cuối cùng mà nhóm tác giả cho thấy thu nhập ngoài lãi bị tác động bởi lĩnh vực hoạt động chuyên sâu của NH và mức thu nhập của một quốc gia; các lĩnh vực hoạt động chuyên sâu của NH quan trọng đối với hiệu quả của việc đa dạng hóa nguồn doanh thu. - Wahyu Yuwana Hidayat, Makoto Kakinaka , Hiroaki iyamoto [47]: Bank risk and non-interest income activities in the Indonesian banking industry. Nhóm tác giả đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro NH và thu nhập ngoài lãi của hệ thống NH ở Ấn Độ trong giai đoạn từ năm 2002 đến 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 2008, nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng rõ ràng cho thấy tác động của hoạt động DVPTD đến rủi ro NH phụ thuộc rất lớn vào qui mô tài sản của ngân hàng.
Cụ thể, mức độ thu nhập từ DVPTD cao liên quan đến rủi ro cho các ngân hàng có qui mô tài sản lớn, ngược lại mức độ thu nhập từ DVPTD thấp liên quan đến rủi ro cho các ngân hàng có qui mô tài sản nhỏ. Phát hiện này cho thấy cần bãi bỏ qui định khuyến khích các NH tham gia nhiều hơn vào các hoạt động DVPTD có thể ảnh hưởng xấu đến hệ thống NH nói chung mà các NH có qui mô tài sản lớn đang đóng một vai trò quan trọng ở Ấn Độ. - Ilias Santouridis, Maria Kyritsi [47]: Investigating the Determinants of Internet Banking Adoption in Greece. Nhóm tác giả nghiên cứu về một DVNH cụ thể là dịch vụ internet banking, dịch vụ Internet banking gia tăng tiện ích cho người sử dụng: giúp cho họ truy cập vào dịch vụ NH nhanh hơn, từ bất cứ nơi nào trên thế giới, thời gian và chi phí được giảm, loại bỏ sự lo lắng do mang tiền mặt.
Nghiên cứu được tiến hành bằng cách sử dụng một bảng hỏi và phỏng vấn khách hàng, mục đích của nghiên cứu là đo lường nhận thức của khách hàng về tính tiện ích, mức độ an toàn, yên tâm, sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ internet banking. Nghiên cứu đã cho ra kết quả Cronbach's alpha dao động từ 0,88 và 0,93. Các nghiên cứu ở Việt Nam về phát triển dịch vụ phi tín dụng Liên quan đến vấn đề “Phát triển dịch vụ phi tín dụng” của các NHTM Việt Nam đã có một số tác giả tiếp cận ở các mảng nghiệp vụ và góc độ khác nhau, một vài công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến các nghiệp vụ DVPTD của các NHTM Việt Nam trong thời gian qua như: - Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Linh [16], Phát triển dịch vụ phi tín dụng của các Ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam. Luận án đã trình bày một cách tổng quan về DVPTD và phát triển DVPTD của các NHTM, tổng kết kinh nghiệm phát triển DVPTD của một số NHTM nước 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài và rút ra bài học cho NHTM Việt Nam, đánh giá thực trạng phát triển DVPTD của các NHTM nhà nước Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển DVPTD của các NHTM nhà nước Việt Nam đến năm 2020.
- Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Thu Hương [14], Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án đã trình bày về những vấn đề lý luận về phát triển DVNH điện tử trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, phân tích thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển DVNH điện tử và các giải pháp phát triển DVNH điện tử tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. - Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Minh Điển [7], Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Luận án đã hệ thống hóa tương đối đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận về DVPTD của NHTM, nêu lên thực trạng phát triển một số DVPTD điển hình của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, từ đó đưa ra các nhóm giải pháp phát triển DVPTD của ngân hàng này.
- Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Thị Hồng Hạnh [9], Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội. Luận văn đã trình bày khái quát cơ sở lý luận về phát triển DVPTD tại NHTM, phân tích thực trạng phát triển DVPTD tại tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội và đề xuất một số giải pháp phát triển DVPTD tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội. - Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Anh Thủy [24], Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Luận án đã hệ thống một cách toàn diện cơ sở lý luận về DVPTD ngân hàng, phân tích thực trạng phát triển DVPTD của hệ thống NHTM Việt Nam, luận án sử dụng mô hình để đo lường sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng DVPTD của NH.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khoảng trống của các công trình nghiên cứu - Một số công trình chỉ nghiên đến một dịch vụ (DV) cụ thể trong các DVPTD như DV thẻ, DVNH điện tử mà chưa nghiên cứu phân tích tổng thể các DVPTD. - Một số nghiên cứu chỉ xem xét DVPTD phát triển trên góc độ thu nhập từ DV này mang lại cho NH và tác động của việc tăng thu nhập từ DVPTD đến rủi ro của NH, mà chưa xem xét đến việc có nên hay không nên và bằng cách nào để phát triển toàn diện các DVPTD của NHTM. - Có những nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề phát triển DVPTD nhưng trong phạm vi quá rộng, cho tất cả các NHTM trong khi đó với mỗi nhóm NHTM (NHTMNN, NHTMCP.) lại có những đặc thù riêng.
Những giải pháp mà các nghiên cứu này đưa ra chưa mang tính riêng biệt để phù hợp với đặc điểm của từng nhóm NHTM hoặc của một chi nhánh NHTM cụ thể. - Ngoài ra, các công trình nghiên cứu trước đây cũng chưa giải quyết triệt để được các vấn đề như: để cho NH đạt lợi nhuận cao nhất thì mức chi phí đầu tư vào DVPTD là bao nhiêu trên tổng thu nhập của NH; Lượng hóa mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến sự phát triển DVPTD của các NHTM; trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm tác động cụ thể vào mỗi nhân tố với các mức độ khác nhau để phát triển DVPTD của các NHTMNN. Đối với Agribank – Chi nhánh Thanh Trì, một trong những chi nhánh luôn có thành tích hoạt động tốt nhiều năm liền, nhưng chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về sự phát triển DVPTD đang được thực hiện. Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Thanh Trì” để tiến hành nghiên cứu.
Tất cả các “khoảng trống” trên đây sẽ là hướng nghiên cứu chính của luận văn này. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý luận về dịch vụ phi tín dụng tại Ngân hàng thƣơng mại 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm ngân hàng thương mại - Ngân hàng: Ngân hàng là một loại hình tổ chức đã có quá trình phát triển từ khá lâu, song cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về ngân hàng. Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 định nghĩa: “Được coi là ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ và các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo Luật nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi, cho phép khách hàng rút tiền theo yêu cầu (bằng cách viết séc hay bằng việc rút tiền điện tử) và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại được xem là một ngân hàng. Luật ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền gửi ký thác, buôn bán vàng bạc hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm.
Theo Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Luật số: 46/2010/QH12): “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ: Nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.