Chương I Luật các TCTD có quy định 7 “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: (a) Nhận tiền gửi; (b) Cấp tín dụng; (c) Cung ứng dịch vụ thanh toán”. Cùng với đó, khi nói đến dịch vụ ngân hàng chúng ta thường gắn với hai đặc điểm: thứ nhất đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế riêng mới có thể thực hiện được một cách trọn vẹn và đầy đủ; thứ hai đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những cho phép NHTM thực hiện tốt yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực để NHTM thực hiện tốt hơn chức năng của mình. Ngoài ra, có một số ý kiến cho rằng hoạt động dịch vụ ngân hàng không bao gồm hoạt động tín dụng và huy động vốn. Theo quan điểm này, việc cạnh tranh về dịch vụ giữa các NHTM sẽ tập trung vào việc cung ứng các loại hình dịch vụ như thanh toán, dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng qua mạng… chứ không phải là các hoạt động truyền thống như tín dụng và huy động vốn.
Tuy nhiên, đây không là ý kiến của phần đa, hầu hết các ý kiến đều cho rằng dịch vụ ngân hàng cần được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ hoạt động tiền tệ, dịch vụ, thanh toán, ngoại hối…của ngân hàng đối với doanh nghiệp và người dân và quan điểm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân hàng trong dịch vụ tài chính của GATS. Theo đó, trong phạm vi luận văn tác giả đề xuất quan điểm về dịch vụ ngân hàng như sau: dịch vụ ngân hàng là tất cả các hoạt động mà một ngân hàng có thể cung cấp làm thỏa mãn nhu cầu khách hàng, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu nhập của ngân hàng. Khái niệm về dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Dịch vụ phi tín dụng và dịch vụ tín dụng đều là dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ phi tín dụng có thể phát sinh đồng thời với hoạt động của dịch vụ tín dụng (huy động vốn và cung cấp vốn) của ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu tiền gửi và tiền vay của khách hàng như mong muốn.
Ngoài ra, một số dịch vụ phi tín dụng hoạt động độc lập với hoạt động tín dụng như: Thu hồi tiền tiêu thụ sản phẩm cho khách hàng; Thanh toán chi trả các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất; Chuyển tiền lương qua tài khoản; Chuyển tiền nộp thuế cho khách hàng…thông qua các dịch vụ sử dụng như thẻ ATM; Séc; Chuyển tiền. 8 Để phân biệt dịch vụ ngân hàng nào là dịch vụ phi tín dụng có thể dựa vào các yếu tố như sau: - Khi khách hàng thực hiện giao dịch với ngân hàng thì ngân hàng không phải sử dụng đến nguồn vốn hoặc nếu có thì sử dụng không nhiều nguồn vốn để thực hiện giao dịch. - Khi khách hàng giao dịch với ngân hàng thì khách hàng phải chi trả một khoản phí khi được cung ứng dịch vụ. Thu nhập của ngân hàng lúc này được thực hiện dưới dạng thu phí chứ không phải thực hiện dưới dạng thu lãi và trả lãi(lãi suất) như dịch vụ tín dụng.
Do đó, trong phạm vi luận văn, tác giả đề xuất khái niệm dịch vụ phi tín dụng của NHTM là: “Dịch vụ phi tín dụng là dịch vụ được ngân hàng cung cấp tới khách hàng để đáp ứng nhu cầu về tài chính, tiền tệ của khách hàng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp đem lại cho ngân hàng một khoản thu nhập bằng các khoản phí xác định thu được từ khách hàng, không bao gồm dịch vụ tín dụng”. Đặc điểm dịch vụ phi tín dụng ngân hàng Dịch vụ phi tín dụng ngân hàng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản của các loại hình dịch vụ như tính vô hình, tính đồng thời, tính không ổn định và bao gồm cả những đặc điểm của dịch vụ ngân hàng như tính dễ bị sao chép, tính đa dạng phong phú, cạnh tranh cao. Tuy nhiên, vì phân khúc thị trường mà dịch vụ phi tín dụng hướng đến là chuyên biệt nên nó mang những đặc trưng riêng so với dịch vụ ngân hàng nói chung như: 1. Mỗi giao dịch có giá trị nhỏ, nhưng số lượng các giao dịch rất lớn Từ khái niệm về dịch vụ ngân hàng ta dễ dàng nhận thấy phân khúc thị trường dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ dân cư, hộ gia đình, hộ kinh doanh, doanh nghiệp.
Thêm vào đó mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, cùng với sự phát triển của các phương tiện truyền thông làm cho nhận thức cũng như nhu cầu của người dân đối với các dịch vụ ngân hàng gia tăng nhanh chóng. Việc khai thác hiệu quả thị trường này sẽ mang đến tiềm năng phát triển vô cùng lớn cho các NHTM. Danh mục sản phẩm dịch vụ đa dạng và thay đổi không ngừng Để đáp ứng được các nhu cầu hết sức đa dạng của thị trường đòi hỏi các ngân hàng phải nỗ lực không ngừng trong công tác marketing. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói chung và DVPTD nói riêng liên tục được nghiên cứu, cải tiến nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng.
Thêm vào đó dịch vụ ngân hàng có đặc tính dễ bị sao chép và chu kỳ sống ngắn, nên danh mục DVPTD luôn được cập nhật và thay đổi để tạo nên tính khác biệt của mỗi dịch vụ, mỗi ngân hàng. Gắn liền với công nghệ kỹ thuật hiện đại và mạng lưới phân phối rộng khắp Vì dịch vụ ngân hàng được cung ứng qua các kênh: trực tiếp qua các chi nhánh, phòng giao dịch tại các ngân hàng hoặc gián tiếp qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin, nên để có thể đáp ứng tốt nhất và thuận tiện nhất nhu cầu của khách hàng, các ngân hàng phải mở rộng mạng lưới và nâng cao công nghệ kỹ thuật. Bản thân hoạt động ngân hàng đã gắn liền với một cơ sở kỹ thuật hiện đại thì việc triển khai DVPTD còn yêu cầu các ngân hàng phải đầu tư nhiều hơn nữa cho hạ tầng và công nghệ. Một nền tảng công nghệ kỹ thuật hiện đại và mạng lưới rộng lớn vừa là tiền đề vừa là cơ sở để đánh giá chất lượng DVPTD của một NHTM.
Lợi nhuận cao đi kèm với rủi ro cao nhưng có thể phân tán được Thu nhập từ DVPTD chủ yếu từ phí dịch vụ và hoa hồng. Các DVPTD phong phú đa dạng và xu hướng phát triển chung của NHTM là giảm các nghiệp vụ rủi ro cao như tín dụng và tăng cường các nghiệp vụ an toàn để hưởng phí và hoa hồng nên phí dịch vụ ngân hàng thu được cũng khá cao. Do số lượng DVPTD lớn và nhiều loại hình nên rủi ro được phân tán, cùng với tỉ lệ lợi nhuận hấp dẫn khiến cho DVPTD là một kênh được các NHTM đầu tư phát triển hiện nay. Các loại dịch vụ phi tín dụng của ngân hàng thương mại Hiện nay có rất nhiều DVPTD của NHTM.
Số lượng các loại dịch vụ phi tín dụng phụ thuộc vào việc phân chia theo tiêu thức nào. Do vậy, việc liệt kê các loại hình dịch vụ ngân hàng nói chung và DVPTD ngân hàng nói riêng cũng chỉ là tương đối. Tuy nhiên có thể kể tên một số DVPTD của NHTM như sau. Dịch vụ thanh toán Thanh toán qua ngân hàng là quan hệ thanh toán được thực hiện và tiến hành bằng cách chuyển tiền từ tài khoản của đơn vị này sang tài khoản của đơn vị khác hoặc bù trừ lẫn nhau giữa các đơn vị tham gia thanh toán, thông qua ngân hàng.
Ngân hàng là người cung ứng dịch vụ thanh toán. Trong thanh toán qua ngân hàng, vai trò của ngân hàng là rất to lớn, ngân hàng được xem như là người thứ ba không thể thiếu trong thanh toán chuyển khoản bởi vì chỉ có ngân hàng – người quản lý tài khoản của các đơn vị mới có thể được phép trích chuyển tài khoản của các đơn vị. Dịch vụ thanh toán chia ra làm hai loại là (1) dịch vụ thanh toán trong nước bao gồm thanh toán bằng séc, thanh toán bằng lệnh chi hoặc ủy nhiệm chi, thanh toán bằng nhờ thu hoặc ủy nhiệm thu, thanh toán bằng thẻ ngân hàng,… và (2) dịch vụ thanh toán quốc tế bao gồm các phương thức chủ yếu như thanh toán chuyển tiền bằng điện, thanh toán nhờ thu, thanh toán L/C,… Cùng với sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng trở nên phổ biến vì những tiện ích của nó. Thật tiện lợi khi mua hàng và muốn trả bao nhiêu tiền chỉ cần ký và ghi vào tờ séc hay trả ngay bằng thẻ thanh toán.
Đối với khách hàng việc thanh toán này giúp họ thanh toán nhanh hơn, an toàn hơn, giảm được nhiều chi phí cho nền kinh tế trong việc in ấn, bảo quản, vận chuyển. Đối với ngân hàng việc cung ứng dịch vụ thanh toán là một trong những nguồn huy động vốn quan trọng không thể thiếu mà nguồn vốn này ngân hàng hầu như không phải trả lãi. Thông qua dịch vụ thanh toán này các NHTM còn có thể cung ứng cho những đối tượng khách hàng đó những dịch vụ khác, tạo điều kiện mở rộng cung ứng dịch vụ cho khách hàng đồng thời tăng doanh thu cho ngân hàng. Công nghệ thông tin phát triển đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển nhiều hình thức thanh toán khác như: nhờ thu, ủy nhiệm chi, thanh toán bằng điện thanh toán… Những dịch vụ này giúp nền kinh tế hoạt động linh hoạt và sôi động hơn.
Tóm lại các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt này là an toàn, nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí, hạn chế lượng tiền mặt trong lưu thông, tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế phát triển. Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên thực hiện là trao đổi ngoại tệ hay mua bán ngoại tệ. Ngân hàng mua bán một loại tiền lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Thông qua dịch vụ mua bán ngoại tệ, một mặt ngân hàng cung cấp ngoại tệ cho khách hàng để khách hàng thanh toán, mặc khác ngân hàng thu chênh lệch tỷ giá.
Dịch vụ mua bán ngoại tệ giúp ngân hàng điều hòa cung cầu ngoại tệ trên thị trường, ổn định tỷ giá, thực hiện chính sách quản lý ngoại hối của NHNN từ đó tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế. Dịch vụ mua bán ngoại tệ ngày càng thu hút khách hàng giao dịch và thúc đẩy các dịch vụ khác của ngân hàng như dịch vụ thanh toán, dịch vụ nhận tiền gửi… 1.