mở đầu cho các cuộc giao dịch thương mại nói chung và ngân hàng nói riêng. Trong bối cảnh điện thoại và điện thoại di động đang trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống của người dân như hiện nay, ngân hàng thương mại với sự hỗ trợ về công nghệ hiện đại có thể cung cấp dịch vụ ngân hàng qua điện thoại như cung cấp số dư tài khoản, sao kê tài khoản, chuyển khoản, thanh toán hóa đơn. Thiết bị thanh toán điện tử Một thiết bị điện tử có đầu đọc dải điện tử được kết nối với mạng ngân hàng, mạng liên ngân hàng cho phép truyền tải, kiểm tra các thông tin từ tấm thẻ nhựa của người mua hàng từ các địa điểm bán hàng, nơi lắp đặt máy, về các ngân hàng của chủ thẻ đó và thực hiện các giao dịch thanh toán. Với tấm thẻ nhựa (thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thẻ thông minh.) bạn có thể mua hàng, rút tiền hoặc, thanh toán dịch vụ mà không cần tiền mặt [24].
Máy tính, mạng nội bộ, mạng liên nội bộ, mạng liên ngân hàng Mạng nội bộ là toàn bộ mạng thông tin của một ngân hàng và các liên lạc mọi kiểu giữa các máy tính trong ngân hàng đó (LAN, WAN…) Mạng Internet Là một mạng diện rộng, tập hợp hàng ngàn các mạng máy tính trải khắp thế giới. Internet giúp cho hàng triệu người dùng trên trái đất có thể thông tin liên lạc với nhau. Các giai đoạn phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử Năm 1989, tại Mỹ đã xuất hiện ngân hàng cung cấp dịch vụ ngân hàng qua mạng đầu tiên, từ đó đến nay các ngân hàng đã có nhiều tìm tòi, thử nghiệm, có nhiều thành công cũng như thất bại trên con đường xây dựng một Luan van 9 hệ thống NHĐT hoàn hảo, phục vụ tốt nhất cho khách hàng. Theo đó hệ thống NHĐT được phát triển qua các giai đoạn sau: Website quảng cáo (Brochure-ware) Đây là giai đoạn đơn giản nhất của NHĐT.
Hầu hết các ngân hàng khi mới bắt đầu xây dựng NHĐT đều thực hiện theo mô hình này. Việc đầu tiên chính là xây dựng một website chứa những thông tin về ngân hàng, đưa sản phẩm lên mạng nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc… Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh thông tin truyền thống như báo chí, truyền hình… Thương mại điện tử (E-commerce) Trong giai đoạn thương mại điện tử, ngân hàng sử dụng internet như một kênh phân phối mới cho những dịch vụ truyền thống như: xem thông tin tài khoản, nhận thông tin giao dịch chứng khoán… Internet ở đây chỉ đóng vai trò như một dịch vụ cộng thêm vào để tạo sự thuận lợi thêm cho khách hàng. Hầu hết các ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này. Kinh doanh điện tử (E-business) Trong giai đoạn này, các xử lý cơ bản của ngân hàng cả ở phía khách hàng (front-end) và phía người quản lý (back-end) đều được tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác.
Giai đoạn này được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của khách hàng đối với ngân hàng. Ngân hàng điện tử (E-banking) Chính là mô hình lý tưởng của một ngân hàng trực tuyến trong nền kinh tế điện tử, một sự thay đổi hoàn toàn trong mô hình kinh doanh và phong cách quản lý. Những ngân hàng này sẽ tận dụng sức mạnh thực sự của mạng toàn cầu nhằm cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho khách hàng với chất lượng tốt nhất. Từ những bước ban đầu là cung cấp các sản phẩm và dịch vụ Luan van 10 hiện hữu thông qua nhiều kênh riêng biệt, ngân hàng có thể sử dụng nhiều kênh liên lạc này nhằm cung cấp nhiều giải pháp khác nhau cho từng đối tượng khách hàng chuyên biệt [12], [24].
Các loại sản phẩm dịch vụ E-banking Hiện nay trên thế giới cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, các dịch vụ ngân hàng cũng không ngừng phát triển đa dạng và phong phú, nhưng phổ biến nhất là các sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử sau: Hình 1. Các dịch vụ ngân hàng điện tử Dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home Banking) Khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nội bộ của ngân hàng, khách hàng sử dụng máy tính của mình thông qua cở sở công nghệ hiện có kết nối với máy chủ của ngân hàng để thực hiện các giao dịch hoặc truy xuất thông tin cần thiết: Tỷ giá, lãi suất, sao kê, chuyển tiền, biểu phí, gửi tiền tiết kiệm, thanh toán tiền hàng. Khách hàng phải đăng ký số thuê bao Internet (địa chỉ do Công ty viễn thông cung cấp) cho ngân hàng, sau đó mỗi khách hàng được cung cấp mật khẩu để kết nối với hệ thống máy chủ ngân hàng để thực hiện dịch vụ. Luan van 11 Dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại (Phone Banking) Khách hàng sử dụng dịch vụ này để lấy thông tin qua điện thoại một cách tự động qua hệ thống tổng đài.
Ngân hàng cài đặt các nội dung mà khách hàng thường dùng trên máy chủ như: Thông tin về lãi suất, tỷ giá ngoại tệ, thông tin thẻ, chứng khoán, địa điểm giao dịch, thời gian giao dịch, các thông tin dịch vụ, thông tin số dư tài khoản, khóa thẻ, yêu cầu ngừng cung cấp dịch vụ. Các thông tin này được trả lời tự động qua điện thoại, email, web chat, không cần điện thoại viên. Dịch vụ ngân hàng tự động qua điện thoại di động (Mobile Banking và SMS Banking) Là hình thức thanh toán trực tuyến qua điện thoại di động thông qua dịch vụ cung ứng của các công ty viễn thông như internet, nhắn tin SMS, MMS. Hiện nay các máy tính bảng, các thiết bị điện tử di động có chức năng truy cập internet cũng có thể sử dụng dịch vụ này.
Khách hàng tham gia dịch vụ này phải đăng ký số thuê bao di động cho ngân hàng cập nhật vào máy chủ để nhận diện khách hàng khi truy cập, đồng thời ngân hàng sẽ cung cấp cho khách hàng một mật khẩu để giao dịch qua điện thoại di động. Dịch vụ ngân hàng qua mạng Internet (Internet Banking) Khách hàng tham gia Internet Banking có thể truy cập tài khoản, thực hiện giao dịch hoặc tìm kiếm thông tin sản phẩm ngân hàng thông qua máy tính cá nhân hoặc thiết bị có chức năng truy cập internet. Đây là giao dịch trực tuyến (chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, tra cứu số dư…) mà không cần các yêu cầu về thiết bị khác như phone banking. Hình thức dịch vụ này giúp cho khách hàng thực hiện giao dịch mọi lúc mọi nơi.
Khi khách hàng tham gia dịch vụ này phải đăng ký địa chỉ email cố định và số thuê bao điện thoại để ngân hàng cập nhật vào hệ thống máy chủ, khi khách hàng thực hiện giao dịch, máy chủ tự động kiểm tra và xác nhận giao dịch bằng chuỗi mã số để Luan van 12 đảm bảo an toàn giao dịch. Trung tâm cuộc gọi (Call Center) Trên cơ sở quản lý dữ liệu tập trung, khách hàng có tài khoản trong cùng hệ thống ngân hàng (ví dụ: Vietcombank) trên toàn quốc gọi về trung tâm dịch vụ để được cung cấp thông tin cần thiết. Dịch vụ Call Center cung cấp thông tin như dịch vụ Phone banking đồng thời trả lời các thắc mắc của khách hàng qua điện thoại viên [20]. Nhóm dịch vụ sử dụng ATM (Automatic Teller Machine) Máy ATM còn được coi là một địa điểm giao dịch một số dịch vụ của ngân hàng phục vụ 24h/24h.
Về phía khách hàng, khi muốn tham gia dịch vụ này khách hàng phải mở 1 tài khoản và đề nghị cấp 1 thẻ (tín dụng hoặc ghi nợ), khi khách hàng đã xác nhận mã PIN thì có thể sử dụng ATM để rút tiền mặt và thực hiện nhiều dịch vụ khác kèm theo như kiểm tra số dư tài khoản, chuyển khoản, thanh toán không dùng tiền mặt, kiểm tra 5 giao dịch gần nhất… 1. Những lợi ích và hạn chế của dịch vụ ngân hàng điện tử a. Lợi ích Thực tế cho thấy dịch vụ ngân hàng điện tử đóng vai trò quan trọng đối với khách hàng và ngân hàng, nó mang lại nhiều tiện ích, là cầu nối gắn kết hơn giữa ngân hàng với khách hàng và ngược lại. Đối với khách hàng - Nhanh chóng, thuận tiện: Ưu điểm lớn nhất mà các dịch vụ ngân hàng điện tử mang đến cho khách hàng chính là sự tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu mà các giao dịch kiểu truyền thống khó có thể đạt được.
Khách hàng nắm bắt thông tin ngân hàng nhanh hơn, thông tin nhận được phong phú và tiện ích. Đồng thời, thực hiện các lệnh thanh toán cũng nhanh hơn. Luan van 13 - Tiết kiệm thời gian, giảm chi phí: Với hệ thống này khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian không cần phải đến ngân hàng, không cần phải ngồi chờ ở ngân hàng đến lượt mình giao dịch mà vẫn có thể giao dịch và biết được các giao dịch phát sinh trên tài khoản của mình, kể cả ngoài giờ hành chính. Đồng thời, cũng tiết kiệm được chi phí đi lại, giao dịch với ngân hàng.
Và hơn nữa, với những tiêu chuẩn chuẩn hóa, khách hàng được phục vụ tận tụy và chính xác thay vì phải tùy thuộc vào thái độ phục vụ khác nhau của các nhân viên ngân hàng. - Quản lý tài sản hiệu quả: Khách hàng biết chính xác, kịp thời tình trạng tài khoản tiền gửi, tiền vay. Quản lý công nợ chính xác, hiệu quả hơn. Khách hàng ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào vẫn nắm bắt thông tin nhanh chóng, quản lý các tài khoản của mình hiệu quả.
Đối với ngân hàng - Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: Việc phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí mở các phòng giao dịch và giảm số lượng nhân viên, theo đó các chi phí liên quan đến hoạt động giao dịch, thanh toán, kiểm đếm, chi phí đi lại sẽ được giảm thiểu. Chi phí giảm so với giao dịch theo phương pháp truyền thống sẽ góp phần tăng doanh thu cho ngân hàng. Đồng thời, việc mang đến những tiện lợi cho khách hàng sẽ làm cho khách hàng sử dụng dịch vụ ngày càng nhiều, từ đó thu được những khoản tiền nhàn rỗi để đem đi đầu tư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. - Tăng khối lượng giao dịch: Do sự thuận lợi trong việc giao dịch không bị giới hạn bởi thời gian, không gian nên khối lượng khách hàng giao dịch ngày đông từ đó dẫn đến khối lượng giao dịch tăng lên một cách nhanh chóng.