CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về dịch vụ ngân hàng thương mại Theo Peter (2004) cho rằng dịch vụ ngân hàng bao gồm toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng thanh toán, ngoại hối, v. của hệ thống ngân hàng cung ứng cho nền kinh tế. Tại Việt Nam, dịch vụ ngân hàng được đã được Luật các TCTD đề cập, tuy nhiên Luật này không đưa ra định nghĩa và giải thích rõ ràng về dịch vụ ngân hàng mà chỉ nêu lên thuật ngữ “hoạt động ngân hàng”. Cụ thể, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh cung ứng thường xuyên hoặc một số các nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản (Khoản 12, Điều 4).
Tổng quát, dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán của khách hàng trong nền kinh tế xã hội.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng thương mại Theo Peter (2004) đã khái quát về đặc điểm dịch vụ của ngân hàng thương mại như sau: - Thứ nhất, quá trình cung ứng dịch vụ ngân hàng và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của khách hàng vào quá trình cung ứng dịch vụ. Đồng thời mỗi dịch vụ lại tuân theo một quy trình nhất định không thể chia cắt được thành các loại dịch vụ khác nhau như quy trình thẩm định, quy trình cho vay…Điều này làm cho dịch vụ ngân hàng không có dịch vụ dở dang, dịch vụ lưu kho mà được cung cấp trực tiếp cho khách hàng khi khách hàng có nhu cầu. Do đó, các NH thường tạo dựng, duy trì và phát triển các mối quan hệ với khách hàng và các NH khác bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng phát triển hoạt động chăm sóc khách hàng trong đội ngũ nhân viên NH và hiện đại hóa hệ thống cung ứng tạo tính đặc biệt của hoạt động dịch vụ này.
- Thứ hai, chất lượng dịch vụ mang tính không đồng nhất. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng được cấu thành bởi nhiều yếu tố như trình độ cán bộ nhân viên, kỹ 1 thuật khoa học công nghệ, khách hàng… Sự biến động của các yếu tố này chi phối trực tiếp đến chất lượng dịch vụ, tạo nên sự không ổn định, không đảm bảo tính đồng đều cũng như khó xác định được chất lượng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. - Thứ ba, dịch vụ mang tính vô hình. Đây chính là đặc điểm chính để phân biệt DVNH với các dịch vụ của các ngành sản xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân.
DVNH không thể nhìn thấy được, cảm nhận được, nghe được trước khi mua chúng như bất cứ dịch vụ vẫn được cung cấp. Khách hàng khi đến với NH không thể biết chắc chắn số tiền của mình có được an toàn hay không? Số tiền thanh toán cho khách hàng có đúng hẹn hay không? Do vậy, để khắc phục đặc điểm này thì trong kinh doanh NH phải dựa trên cơ sở lòng tin. Hoạt động của NH phải hướng vào việc củng cố và tạo ra lòng tin đối với khách hàng khi sử dụng dịch vụ đối với khách hàng bằng cách nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng, tăng tính hữu hình của dịch vụ, quảng cáo tăng hình ảnh của NH, uy tín, tạo điều kiện để khách hàng tham gia vào hoạt động tuyên truyền cho NH. - Thứ tư, dịch vụ được cung cấp liên tục, thuận tiện và nhanh chóng.
Dịch vụ NHĐT được cung cấp liên tục 24h mỗi ngày, kể cả ngày lễ và ngày nghỉ thông qua các kênh phân phối điện tử. Để đảm bảo được tính liên tục, các NH không ngừng đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật công nghệ cũng như nguồn nhân lực. Chỉ với chiếc điện thoại hoặc máy vi tính kết nối mạng internet, KH không cần trực tiếp đến NH mà có thể thực hiện giao dịch mọi lúc mọi nơi nhanh chóng, từ đó tiết kiệm được thời gian di chuyển, xếp hàng của mình. Vì vậy, tốc độ nhanh và thuận tiện chính là ưu điểm của dịch vụ NHĐT.
- Thứ năm, dịch vụ ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro. Do tính chất phức tạp của việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật và tốc độ phát triển nhanh chóng của các sản phẩm, dịch vụ NHĐT nên mức rủi ro trong kinh doanh, bảo mật an ninh, uy tín trong mọi hoạt động ngân hàng cũng ngày càng gia tăng. Có nhiều trường hợp tiền trong tài khoản khách hàng bị mất mà không biết do bản thân khách nhầm lẫn hay do lỗi ngân hàng hoặc do hacker công nghệ cao… 1 1.2 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ 1.1 Khái niệm Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ NHĐT: Theo tổ chức tài chính FFIEC (Hội đồng thi của các Viện tài chính liên bang Hoa Kỳ - Federal Financial Institutions Examination Council of United States), dịch vụ ngân hàng điện tử được hiểu là loại hình dịch vụ ngân hàng được cung cấp trực tiếp đến KH một cách tự động thông qua các kênh truyền thống có tính tương tác. BIS (1998) cho rằng e- Banking bao gồm việc cung ứng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ có giá trị nhỏ thông qua các kênh điện tử cũng như các khoản chuyển tiền có giá trị lớn và các dịch vụ ngân hàng bán buôn qua các kênh điện tử.
Mols (1998) hay Sathye (1999) đều cho rằng e-Banking để cập đến một số dạng DV mà thông qua đó KH có thể yêu cầu cung cấp thông tin và thực hiện hầu hết các DVNH bán lẻ thông qua máy tính hoặc điện thoại. Trong khi đó, Nguyễn Minh Kiều (2007) cho rằng hoạt động NHĐT là hoạt động được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử, hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Theo Luật giao dịch điện tử của Việt Nam thì: Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử (Khoản 6, Điều 4). Trong đó, phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự (Khoản 10, Điều 4).
Theo NHNN thì: “Dịch vụ ngân hàng trên Internet (Internet Banking) là các dịch vụ ngân hàng và dịch vụ trung gian thanh toán được các đơn vị cung cấp thông qua mạng Internet”. 1 Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm dịch vụ NHĐT nhưng nhìn chung, dịch vụ NHĐT là thực hiện các giao dịch thông qua tài khoản ngân hàng trên Internet bằng các phương tiện điện tử hiện đại mà không cần phải đến ngân hàng. Hay nói cách khác, dịch vụ NHĐT là sự kết hợp giữa một số dịch vụ truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông.2 Đặc điểm dịch vụ ngân hàng điện tử - Tốc độ xử lý giao dịch nhanh Dịch vụ NHĐT cho phép KH thực hiện giao dịch với NH với thời gian ngắn nhất. Với sự tác động của công nghệ 4.0, các giao dịch thông qua Internet Banking cho phép KH thực hiện giao dịch và xác nhận các giao dịch một cách nhanh chóng, kịp thời.
Các thông tin về DVNH, như: Báo giá chứng khoán, thông báo lãi suất, biến động tỷ giá, quản lý danh mục đầu tư. được NH cập nhật một cách nhanh chóng, chính xác, giúp KH quản lý hiệu quả tài sản cũng như danh mục đầu tư của họ. - Không bị giới hạn về không gian, thời gian Khách hàng không cần phải đến ngân hàng ký vào giấy tờ, viết phiếu chuyển tiền, chờ xếp hàng,. mà chỉ cần thực hiện giao dịch trên máy tính, điện thoại, gọi một cuộc điện thoại.
tại nhà, tại phòng làm việc, ở quán cà phê. Chính vì vậy, KH có thể tiết kiệm được rất nhiều thời gian di chuyển, xếp hàng chờ giao dịch, nhờ đó, nắm bắt được nhiều cơ hội hơn: Chỉ trong giây lát, với các phương tiện truyền dẫn hiện đại, KH có thể kiểm tra được tài khoản, thanh toán phí DV, chuyển khoản, thực hiện các giao dịch thanh toán tiền mua hàng,. để kịp thời nắm bắt các cơ hội đầu tư, kinh doanh. - Tăng khả năng chăm sóc KH Thông qua DV Internet Banking, các NH có thể cung cấp nhiều giá trị gia tăng hơn cho khách hàng và có thể hoàn toàn thỏa mãn nhu cầu của họ với những DV thanh toán trực tuyến, mua sắm Online, đầu giá trực tuyến, chuyển tiền Online.
một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả. - Chi phí giao dịch thấp 1 Theo Booz (1997) thì chi phí cho việc giao dịch với các NHTM qua Internet thấp hơn rất nhiều so với việc KH thực hiện giao dịch trực tiếp với nhân viên NH. Khách hàng có thể tiết kiệm chi phí đi lại cũng như không phải trả phí dịch vụ khi giao dịch trực tiếp với NH. NHĐT đặc biệt thích hợp với KH luôn di chuyển vị trí, ưa thích sự độc lập, bận rộn và ít thời gian đến NH giao dịch hoặc có số lượng giao dịch với NH không nhiều, số tiền mỗi lần giao dịch không quá lớn.
Ngoài việc tiết kiệm được chi phí đi lại, giảm thiểu được các chi phí cơ hội do việc tiết kiệm thời gian, thì nhìn trên biểu phí của một NH, dịch vụ NHĐT luôn có mức phí thấp nhất. - Phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ và chứa đựng rủi ro về công nghệ Bản thân các DV NHĐT được thiết kế dựa trên liên kết của công nghệ thông tin và dữ liệu NH. Các DV cung cấp muốn sử dụng được đều có sự tham gia Internet hay các thiết bị điện tử như: Máy tính, điện thoại, thẻ NH. Do đó, NHĐT là DV gắn liền với yếu tố công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, nó cũng chịu rủi ro từ chính những công nghệ hiện đại đó, bởi công nghệ hiện đại thì cũng xuất hiện nhiều hacker, tin tặc tạo nên virus hoặc xâm nhập ăn cắp dữ liệu, do đó, nếu các DV NHĐT không có khả năng bảo mật tốt thì sẽ chịu thiệt hại bởi rủi ro này. - Phụ thuộc vào trình độ của người sử dụng. Bên cạnh việc phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ, KH khi sử dụng NHĐT đòi hỏi phải có các kỹ năng sử dụng ICT bên cạnh nhận thức xã hội.