Chương I. Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ E - Banking. Chương II. Thực trạng về phát triển dịch vụ E - Banking tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
4 Chương III. Giải pháp phát triển dịch vụ E - Banking tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Do đề tài này còn mới mẻ và chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện trước đó nên sẽ còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn nữa. Xin chân thành cảm ơn TS.
Hồ Văn Tuấn – Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long đã tận tình hướng dẫn để tác giả có thể hoàn thành kết quả nghiên cứu này. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ E - BANKING I. Tổng quan về dịch vụ E - Banking của Ngân hàng thương mại I. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Hiện nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thương mại.
Theo cuốn Quản trị Ngân hàng thương mại của Peter Rose, Ngân hàng thương mại được định nghĩa là “loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán , và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức kí thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Còn tại Việt Nam, theo Mục 3 – Điều 4 – Luật Các tổ chức tín dụng do Quốc Hội khóa 12 ban hành ngày 16 tháng 06 năm 2010, NHTM được định nghĩa như sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Và hoạt động ngân hàng được định nghĩa là “việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Hoạt động của Ngân hàng thương mại Ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà, cung cấp vốn cho nền kinh tế. Với sự phát triển kinh tế và công nghệ hiện nay, hoạt động ngân hàng đã có những bước tiến rất nhanh, đa dạng và phong phú hơn song ngân hàng vẫn duy trì các hoạt động cơ bản sau: 6 a. Hoạt động huy động vốn: Đây là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Vốn được ngân hàng huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như huy động dưới hình thức tiền gửi, đi vay, phát hành giấy tờ có giá.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng ngày càng mở rộng, tạo uy tín của ngân hàng ngày càng cao, các ngân hàng chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế và các tổ chức dân cư, mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Do đó các ngân hàng thương mại phải căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương. Từ đó đưa ra các loại hình huy động vốn phù hợp nhất là các nguồn vốn trung, dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hoạt động sử dụng vốn Đây là hoạt động trực tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của ngân hàng, quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
Do vậy ngân hàng cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình sao cho hợp lý nhất. Một là, ngân hàng tiến hành cho vay. Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM. Nhìn chung, khoảng 60%- 75% thu nhập của ngân hàng là từ các hoạt động cho vay.
Thành công hay thất bại của một ngân hàng tuỳ thuộc chủ yếu vào việc thực hiện kế hoạch tín dụng và thành công của tín dụng xuất phát từ chính sách cho vay của ngân hàng. Các loại cho vay có thể phân loại bằng nhiều cách, bao gồm: mục đích, hình thức bảo đảm, kỳ hạn, nguồn gốc và phương pháp hoàn trả. Hai là tiến hành đầu tư. Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện của hàng loạt những nhu cầu khác nhau.
Với tư cách là một chủ thể hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, đòi hỏi ngân hàng phải luôn nắm bắt được thông tin, đa dạng các nghiệp vụ để cung cấp đầy đủ kịp thời nguồn vốn cho nền kinh tế. Ngoài hình thức phổ biến là cho vay, ngân hàng còn sử dụng vốn để đầu tư. Có 2 hình thức chủ yếu mà các ngân hàng thương mại có thể tiến hành là: đầu tư vào mua bán kinh doanh 7 các chứng khoán hoặc đầu tư góp vốn vào các doanh nghiệp, các công ty khác; đầu tư vào trang thiết bị TSCĐ phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ba là hoạt động ngân quỹ.
Lợi nhuận luôn là mục tiêu cuối cùng mà các chủ thể khi tham gia tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, đằng sau mục tiêu quan trọng đó là hàng loạt các nhân tố cần quan tâm. Một trong những nhân tố đó là tính an toàn. Nghề ngân hàng là một nghề kinh doanh đầy mạo hiểm, trong hoạt động của mình, ngân hàng không thể bỏ qua sự an toàn.
Vì vậy, ngoài việc cho vay và đầu tư để thu được lợi nhuận, ngân hàng còn phải sử dụng một phần nguồn vốn huy động được để đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán và thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng Trung ương đề ra. Hoạt động khác : Là trung gian tài chính, ngân hàng có rất nhiều lợi thế. Một trong những lợi thế đó là ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá và dịch vụ. Để thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu , các loại thẻ… cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử , kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy khi khách hàng cần.
Mặt khác, các ngân hàng thương mại còn tiến hành môi giới, mua, bán chứng khoán cho khách hàng và làm đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty. Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Như vậy, các nghiệp vụ trên nếu thực hiện tốt sẽ đảm bảo cho ngân hàng tồn tại và phát triển vững mạnh trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Vì các nghiệp vụ trên có mối liên hệ chặt chẽ thường xuyên tác động qua lại với nhau. Nguồn vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động.
Các nghiệp vụ trung gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách hàng, qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Khái niệm về dịch vụ E - Banking IMF đã đưa ra một khái niệm ngắn gọn về dịch vụ E - Banking như sau: “Dịch vụ E - Banking chỉ đơn giản là việc cung cấp các dịch vụ của ngân hàng thông qua các kênh lưu thông điện tử”. Dịch vụ E – Banking (hay còn gọi là dịch vụ ngân hàng điện tử) hiểu đơn giản là loại hình dịch vụ ngân hàng mà khách hàng không phải đến quầy giao dịch gặp trực tiếp nhân viên ngân hàng nhưng vẫn có thể tự mình thực hiện được một số giao dịch ngân hàng. Hiểu theo nghĩa rộng hơn thì đây là sự kết hợp giữa một số hoạt động dịch vụ ngân hàng truyền thống với công nghệ thông tin và điện tử viễn thông, một dạng của Thương mại điện tử ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Theo Quy định về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng điện tử ban hành kèm theo Quyết định số 35/2006/QĐ-NHNN, dịch vụ E - Banking được định nghĩa là “hoạt động ngân hàng được thực hiện qua các kênh phân phối điện tử”. Trong đó, kênh phân phối điện tử là “hệ thống các phương tiện điện tử và quy trình tự động xử lý giao dịch được tổ chức tín dụng sử dụng để giao tiếp với khách hàng và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho khách hàng”. Và theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng 2004, hoạt động ngân hàng được định nghĩa là “hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Như vậy, dịch vụ E - Banking là dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua phương thức điện tử như máy tính cá nhân, ATM, POS, điện thoại… và hệ thống quản lý – xử lý dữ liệu tại các ngân hàng (Core Banking).
Các tiện ích được cung cấp bao gồm tiện ích thông tin, thanh toán, tín dụng, gửi tiền, và các tiện ích khác. Khác với dịch vụ ngân hàng truyền thống, dịch vụ E - Banking được cung cấp thông qua các kênh điện tử. Phân loại dịch vụ E - Banking Do dịch vụ E - Banking được cung cấp thông qua các kênh điện tử, nên cách phân loại các loại hình dịch vụ E - Banking cũng sẽ phân chia theo các kênh phân phối điện tử hiện nay. Dịch vụ Thẻ Thẻ ngân hàng là một phương thức thanh toán không dùng tiền mặt do ngân hàng phát hành cho khách hàng, theo đó người sử dụng thẻ có thể dùng để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ tại các Đơn vị chấp nhận thẻ hoặc thực hiện các giao dịch liên quan đến tài khoản tại các máy ATM.
Hoạt động phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng có sự tham gia chặt chẽ của 4 chủ thể là: ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ, chủ thẻ và các đơn vị chấp nhận thẻ.