CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Những vấn đề chung về công ty tài chính 1. Chức năng của công ty tài chính Công ty tài chính là tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Chức năng chủ yếu của công ty tài chính là cho vay tới cả cá nhân và các doanh nghiệp.
Các dịch vụ công ty tài chính cung cấp bao gồm cho vay tiêu dùng, cho vay kinh doanh và cho vay cầm cố. Một số khoản vay của Công ty tài chính giống với khoản vay của Ngân hàng thương mại, một số thì chuyên môn hoá cao hơn. Theo luật các tổ chức tín dụng 2010 và nghị định 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định số 79/2002/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính, “công ty tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng, với chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư, cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch vụ khác theo quy định của pháp luật, nhưng không được làm dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 01 năm” [1,3]. Công ty tài chính bao gồm loại hình: Công ty tài chính tổng hợp được thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ theo quy định và Công ty Tài chính chuyên ngành hoạt động chủ yếu trên một số lĩnh vực như tín dụng tiêu dùng hoặc phát hành thẻ tín dụng và các hoạt động khác theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam [1].
Lợi ích của công ty tài chính mang lại cho các doanh nghiệp là rất lớn. Không phải ngẫu nhiên mà trên thế giới, các tập đoàn lớn thường có ít nhất một công ty tài chính. Công ty tài chính là công cụ để tập đoàn điều tiết vốn và sử dụng vốn một cách có hiệu quả và thuận lợi nhất. Trong phạm vi nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ lợi ích gắn bó, công ty tài chính có 4 thể dễ dàng huy động các nguồn vốn nhàn rỗi từ các công ty thành viên để tập trung vốn đầu tư.
Với tính nội bộ cao trong hoạt động nghiệp vụ công ty tài chính có thể kiểm soát rủi ro và tập trung vốn lớn cho các dự án quan trọng trong nội bộ tập đoàn. Phân loại công ty tài chính Về cơ bản, có ba loại hình công ty tài chính: Công ty tài chính thương mại, công ty tài chính doanh số và công ty tài chính tiêu dùng (a) Công ty tài chính thương mại là những công ty tài chính có chức năng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dưới các hình thức như bao thanh toán, cho thuê tài chính và các khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu. - Bao thanh toán là việc mua bán các khoản phải thu chưa đến hạn tại 1 mức chiết khấu nhất định, nó là 1 công cụ tài chính cung cấp cho người bán bốn dịch vụ cơ bản là: Tài trợ vốn ngắn hạn, dịch vụ thu hộ tiền từ người mua, dịch vụ quản lý sổ sách kế toán bán hàng, và dịch vụ bảo đảm rủi ro tín dụng. Ví dụ một hãng kinh doanh quần áo có thể có những giấy nợ chưa được thanh toán (khoản phải thu) giá trị 100.000$ từ một cửa hàng bán lẻ đã mua quần áo của nó.
Nếu hãng này cần tiền mặt, nó có thể bán khoản phải thu này chẳng hạn với giá 90.000 $ cho một công ty tài chính, công ty này bây giờ có quyền thu 100.000 $ mà cửa hàng bán lẻ đã nợ hãng. - Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn của tổ chức tín dụng dành cho khách hàng doanh nghiệp. Khi này, ngân hàng cam kết mua và cho thuê lại máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của doanh nghiệp. Trong suốt thời gian thuê, công ty tài chính vẫn là chủ sở hữu tài sản và doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê cho công ty tài chính theo hợp đồng đã ký giữa 2 bên.
- Các khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu là việc tài trợ qua khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu thông dụng nhất trong ngành ôtô vì loại hàng 5 này có những giấy tờ sở hữu mà công ty tài chính có thể nắm giữ để đảm bảo cho khoản vay của họ. Ví dụ cụ thể như sau, Một nhà công ty sản xuất đòi hỏi các nhà bán lẻ chấp nhận việc giao ôtô trong cả năm nhưng việc bán lại mang tính thời vụ. Để giúp các nhà bán lẻ thanh toán cho những chiếc xe lưu kho, công ty tài chính cung cấp khoản vay đảm bảo bằng giấy sở hữu để thanh toán tiền cho số ôtô của nhà bán lẻ đang lưu kho. Khi một chiếc xe được bán, nhà bán lẻ phải hoàn trả khoản nợ (và cả tiền lãi trên khoản vay này) đã mang đối với mỗi chiếc xe đấy để nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu chiếc xe đó.
(b) Công ty tài chính doanh số Các công ty tài chính này thường do các công ty sản xuất hay các nhà phân phối bán lẻ (retailling or manufacuring) làm chủ sở hữu, thành lập nên nhằm hỗ trợ hoạt động tiêu thụ hàng hoá của mình thông qua việc thực hiện các khoản cho vay tài trợ cho khách hàng mua các sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của chính công ty. Công ty tài chính bán hàng cạnh tranh trực tiếp với ngân hàng về các khoản cho vay tiêu dùng và thu hút được khách hàng do các khoản vay này thường được thực hiện nhanh hơn và tiện lợi hơn tại các địa điểm mua hàng. Lãi suất được chào bởi những công ty này thường thấp hơn lãi suất của các ngân hàng và của các công ty tài chính khác, để tăng doanh số. Lợi nhuận thu được trên doanh số sẽ bù lại những khoản thất thoát trên khoản vay.
Ví dụ tại Mỹ, General Motors Acceptance Corporation chuyên tài trợ cho khách hàng mua ôtô của hãng General Motors (c) Công ty tài chính tiêu dùng Công ty tài chính tiêu dùng thực hện các khoản vay tới người tiêu dùng để mua mặt hàng nào đó, như đồ nội thất hay các thiết bị gia dụng, hoặc để sửa nhà, hoặc để giúp tái tài trợ cho những món nợ nhỏ. Công ty tài chính tiêu dùng là những công ty riêng biệt hoặc do các ngân hàng làm chủ sở hữu. Những công ty này thường thực hiện những khoản vay tới những người tiêu 6 dùng gặp khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn tín dụng khác. Các công ty tài chính có thể chấp nhận nhận tài sản bảo đảm mà ngân hàng không nhận như ôtô cũ- những khoản có rủi ro cao và phí bảo trì cao.
Thay vào đó, những khoản cho vay này có lãi suất rất cao. Một lĩnh vực tăng trưởng nữa của các công ty tài chính tiêu dùng là thẻ tín dụng bán lẻ. Nhiều nhà bán lẻ thích chào tới khách hàng của họ một thẻ tín dụng “ có nhãn hiệu riêng” để tăng doanh số. Những hãng bán lẻ lớn vận hành các chương trình thẻ tín dụng riêng của họ hoặc tại chỗ hoặc qua các công ty tài chính con.
Còn những hãng bán lẻ nhỏ hơn có thể ký kết hợp đồng với một công ty tài chính. Khi các nhà bán lẻ tiếp nhận đơn xin cấp thẻ tín dụng, họ chuyển chúng sang các công ty tài chính để phê chuẩn. Công ty tài chính sẽ cung cấp các dịch vụ ghi hoá đơn và thu tiền cho tài khoản. Người tiêu dùng có thể không bao giờ biết rằng có một công ty tài chính đang tham gia vào những giao dịch này.
Công ty tài chính cho phép các hãng bán lẻ nhỏ có thể cung cấp một dịch vụ mà lẽ ra chỉ những hãng bán lẻ lớn mới có thể cung cấp. Quản lý các công ty tài chính Công ty tài chính là một tổ chức tín dụng chính vì vậy nó cũng phải tuân thủ pháp luật, chính sách, cơ chế, quy đinh đối với một tổ chức tín dụng bao gồm: Luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và tổ chức tín dụng; Nghị đinh của chính phủ số 178/1999 NĐ/CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng; Nghị đinh của chính phủ số 141/2006/ NĐ-CP ngày 22/11/2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng và nghị định 10/2011/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/ NĐ-CP ngày 22/11/2006; Thông tư số 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm 7 an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng; Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng. Căn cứ theo Nghị định của chính phủ số 79/2002/NĐ-CP ngày 04 tháng 10 năm 2002 về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính và Nghị định số 81/2008/NĐ-CP ngày 29/07/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 79/2002/NĐ-CP, một số những quy định cụ thể đối với công ty tài chính như sau: Mức vốn pháp định. Công ty tài chính và ngân hàng đều phải có vốn pháp định, song vốn pháp định của công ty tài chính thấp hơn ngân hàng.
Theo nghị định 10/2011/NĐ-CP ngày 26/01/2011 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 141/2006/ NĐ-CP ngày 22/11/2006, công ty tài chính phải có mức vốn pháp định áp dụng cho đến năm 2011 là 500 tỷ đồng [4]; Đối với ngân hàng thương mại là 3. Thời gian hoạt động. Thời hạn hoạt động của công ty tài chính tối đa là 50 năm. Trường hợp cần gia hạn thời hạn hoạt động, phải được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận, nhưng mỗi lần gia hạn không quá 50 năm.
Trong khi đó, thời hạn hoạt động của các ngân hàng lại không bị hạn chế [1]. Quản lý nhà nước Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm về quản lý Nhà nước đối với tổ chức và hoạt động của công ty cài chính, cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động; giám sát và thanh tra hoạt động của các công ty cài chính tại Việt Nam; ban hành các văn bản hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính; thực hiện những nhiệm vụ quản lý Nhà nước khác theo quy định của pháp luật 8 Quy định về các hoạt động huy động vốn của công ty tài chính: - Nhận tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.