lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cầu thành 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về phát triển cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mai. Chƣơng 2: Phƣơng pháp và thiết kế nghiên cứu phát triển cho vay tiêu dùng tại VietinBank chi nhánh Hải Phòng. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu hoạt động cho vay tiêu dùng tại VietinBank Chi nhánh Hải Phòng. Chƣơng 4: Giải pháp phát triển cho vay tiêu dùng tại VietinBank Chi nhánh Hải Phòng.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu các đề tài có liên quan Chủ đề CVTD từ lâu đã thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lý luận cũng nhƣ thực tiễn trong và ngoài nƣớc, đáng chú ý nhất là một số công trình nghiên cứu sau: 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Pearce (1985), phân tích dữ liệu từ các cuộc khảo sát về tài chính - tín dụng tiêu dùng ở các năm 1967, 1977 và 1983 của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ, đã xác nhận nhiều yếu tố ảnh hƣởng tới tín dụng tiêu dùng cá nhân ở Hoa Kỳ. Các yếu tố ảnh hƣởng tới cầu tín dụng, bao gồm: tuổi, lãi suất cho vay và thu nhập.
Các yếu tố ảnh hƣởng tới cung tín dụng, bao gồm: trần lãi suất (qui định), cấu trúc tài sản của tổ chức tín dụng và sự cạnh tranh (các nguồn cung khác). Hawley & Fujii (1991), phân tích thông tin từ dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng ở các tổ chức tín dụng ở Hoa Kỳ năm 1983 bằng hồi qui mô hình Probit, cho thấy các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng: chủng tộc, tuổi, giới tính và tình trạng hôn nhân, thu nhập và chi tiêu. Chien & DeVaney (2001), sử dụng dữ liệu khảo sát về tài chính tiêu dùng của 4.305 cá nhân năm 1998 ở Hoa Kỳ, bằng phân tích hồi qui mô hình Tobit, cho thấy nhiều yếu tố ảnh hƣởng tới lƣợng tín dụng tiêu dùng ở tổ chức tín dụng. Cá nhân có trình độ học vấn cao hơn, có gia đình và có chuyên môn cũng nhƣ có thái độ rõ ràng đối với nghĩa vụ trả nợ sẽ có lƣợng tín dụng cao hơn.
Kim & DeVaney (2001), sử dụng dữ liệu khảo sát tài chính tiêu dùng của 3.376 cá nhân sử dụng thẻ tín dụng (tín dụng tiêu dùng) ở Hoa Kỳ năm 1998 và phân tích bằng mô hình hồi quy hai bƣớc của Heckman đã kết luận nhiều yếu tố ảnh hƣởng tới sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân. Các yếu tố ảnh hƣởng tới khả năng sử dụng, ngoài tuổi của cá nhân có ảnh hƣởng thuận, các yếu tố trình độ học vấn của cá nhân, thu nhập, tài sản thanh khoản, bất động sản, lãi suất và kỳ hạn khoản vay cùng 4 có tác động nghịch. Các yếu tố ảnh hƣởng cùng có tác động thuận tới lƣợng tín dụng: trình độ học vấn, mức thu nhập và giá trị bất động sản. Zhu & De'Armond (2005), sử dụng thông tin từ khảo sát chi tiêu dùng của 7.579 cá nhân ở Hoa Kỳ năm 2001, bằng phân tích hồi qui mô hình logit đã kết luận các yếu tố ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê tới khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng của cá nhân: chủng tộc, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm và trình độ học vấn của cá nhân; thu nhập, trợ cấp và nhà ở cá nhân.
Trong đó, trình độ học vấn của cá nhân, thu nhập và có trợ cấp có tác động thuận; cá nhân độc thân, thất nghiệp có tác động nghịch tới khả năng tiếp cận tín dụng. Các yếu tố ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê tới lƣợng vốn tín dụng của cá nhân, bao gồm: tuổi, trình độ học vấn của cá nhân; thu nhập và có nguồn vay khác. Trong đó, chỉ có trình độ học vấn có tác động nghịch, các yếu tố khác đều tác động thuận tới lƣợng vốn vay tiêu dùng của cá nhân. Tình hình nghiên cứu trong nước Tọa đàm khoa học “ Cho vay tiêu dùng - Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị chính sách cho Việt Nanm”, Học viện Ngân hàng phối hợp với Viện chiến lƣợc Ngân hàng Nhà nƣớc (NHNN) tổ chức tại Học viện Ngân hàng - Phân viện Phú Yên, ngày 25/09/2013.
Tại buổi tọa đàm, các nhà khoa học và lãnh đạo Ngân hàng các địa phƣơng đã tập trung thảo luận, làm rõ một số vấn đề nhƣ: Thuận lợi và khó khăn trong CVTD tại Việt Nam, cơ cấu sản phẩm, cơ cấu khách hàng, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay, tỷ lệ nợ xấu, triển vọng phát triển CVTD, hành lang pháp lý, các khuyến nghị đối Chính phủ, cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy phát triển lành mạnh thị trƣờng tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam. Hội thảo “Tài chính tiêu dùng - Cơ hội và thách thức tại thị trƣờng Việt Nam”, Phú Quốc Home Credit tổ chức tại Resort Sasco Blue Lagoon, ngày 29/06/2013. Tại buổi hội thảo này các chuyên gia tài chính-kinh tế tập trung thảo luận các cơ hội, tiền năng, phát triển thị trƣờng CVTD Việt Nam, cũng nhƣ những thách thức mà các công ty tài chính, ngân hàng gặp phải. Khẳng định vai trò quan trọng của CVTD, và ngày càng trở nên phổ biến trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng.
Tiếp theo là bài báo nghiên cứu của Th.s Lê Thị Kim Huệ, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 21 tháng 11/2013 - H. Bộ Kế hoạch đầu tƣ, 2013- Tr 24-25 - Phát triển 5 hoạt động cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Kim Huệ đã đƣa ra cái nhìn tổng quan về thị trƣờng CVTD Việt Nam trong thời gian qua. Trong đó, chỉ ra những sai lầm, hạn chế mà các ngân hàng, tổ chức tài chính mắc phải khiến cho hoạt động này chƣa phát triển mạnh mẽ, và đề xuất các giải pháp khắc phục.
Đề tài “Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội, chi nhánh Thanh Xuân”, luận văn thạc sỹ, Nguyễn Thành Công, Đại học Kinh tế Quốc dân (2009), tác giả đã đề cập đến các vấn đề sau: Khái niệm hoạt động CVTD của NHTM; Hiệu quả hoạt động CVTD trong thị trƣờng ngân hàng Việt Nam; Vai trò, ý nghĩa của CVTD đối với sự phát triển của thị trƣờng tài chính; Xu hƣớng của sự phát triển CVTD trên thế giới và tác động của nó tới Việt Nam. Thêm vào đó công trình nghiên cứu về CVTD ở phạm vi địa phƣơng, trong đó hệ thống hóa đƣợc lý luận cơ bản CVTD, đặc điểm CVTD dùng và thực trạng CVTD tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - chi nhánh Thanh Xuân, phƣơng hƣớng và giải pháp đẩy mạnh. Đề tài “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam (Vietcombank)”, luận văn Thạc sỹ, Lê Minh Sơn, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (2009), đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về CVTD của NHTM trong nền kinh tế thị trƣờng; Tập hợp một số bài học kinh nghiệm của các ngân hàng nƣớc ngoài thành công trong lĩnh vực bán lẻ từ đó rút ra bài học kinh nghiệm phát triển cho vay bán lẻ cho các NHTM Việt Nam; Phân tích khá đầy đủ và khách quan thực trạng CVTD của Vietcombank, từ đó chỉ ra những kết quả đạt đƣợc, những hạn chế trong hoạt động CVTD của Vietcombank. Trên cơ sở phân tích đánh giá những ƣu, nhƣợc điểm của Vietcombank, tác giả đề xuất một số giải pháp để phát triển hoạt động CVTD tại Vietcombank.
Nhìn chung các công trình nêu trên đã tập trung nghiên cứu những yếu tố ảnh hƣởng đến hoạt động CVTD trong phạm vi một chi nhánh hoặc ngân hàng. Tuy nhiên, các công trình vẫn chƣa đi sâu tìm hiểu nhu cầu thị hiểu của khách hàng đối với loại hình dịch vụ này để có thể phát triển theo hƣớng đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng, mà chủ yếu phân tích các yếu kém bên trong ảnh hƣởng đến CVTD 6 của ngân hàng, và các giải pháp phát triển CVTD trong giai đoạn các luận văn trên nghiên cứu. Khi mà nền kinh tế đã có nhiều biến chuyển, đời sống của ngƣời dân từng bƣớc đƣợc cải thiện, số đông ngƣời dân có nhu cầu tiêu dùng, sử dụng hàng hóa trƣớc khi có thu nhập để thanh toán. Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu chủ đề này, để tìm các giải pháp phát triển CVTD tại VietinBank Chi nhánh Hải Phòng là rất cần thiết.
Cho vay tiêu dùng của ngân hàng thƣơng mại CVTD là một hoạt động tất yếu hình thành do yêu cầu của nền kinh tế thị trƣờng nhằm giải quyết các vấn đề: ngƣời tiêu dùng có nhu cầu tiều dùng vƣợt quá khả năng thanh toán hiện tại, ngƣời bán mong muốn tiêu thụ đƣợc hàng hoá. Nhƣ vậy, cần đến một tổ chức thứ ba thực hiện việc cho vay đối với ngƣời mua, hoặc hỗ trợ cho ngƣời bán. Sẽ không có một tổ chức nào đảm nhiệm đƣợc vị trí này bằng các tổ chức trung gian tài chính, mà quan trọng nhất là các NHTM. Đó là lý do chính hình thành nên nghiệp vụ CVTD.
Trong thời gian tới, chiến lƣợc CVTD sẽ tiếp tục đóng một vai trò chủ đạo trong các dịch vụ ngân hàng cũng nhƣ trong quản lý ngân hàng. Xu hƣớng này diễn ra không chỉ vì CVTD là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, mà còn vì ngƣời tiêu dùng với trình độ dân trí ngày càng cao sẽ vay nhiều hơn để nâng cao mức sống bản thân và đáp ứng các kế hoạch chi tiêu trên cơ sở triển vọng về thu nhập trong tƣơng lai. Trong tƣơng lai, CVTD sẽ hƣớng đến sự thuận tiện, ngân hàng sẽ tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nhận đƣợc khoản vay sớm hơn trong khi vẫn duy trì đƣợc sự kiểm soát đối với món vay tiêu dùng để tránh những giảm sút đáng kể về chất lƣợng tín dụng. Đây chính là xu hƣớng chủ yếu mà hoạt động CVTD sẽ phát triển trong tƣơng lai.
Khái niệm cho vay tiêu dùng Một số khái niệm liên quan: - Cho vay của NHTM: là việc chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị từ NHTM (ngƣời sở hữu) sang khách hàng vay (ngƣời sử dụng) sau một thời gian nhất định quay trở lại NHTM với lƣợng giá trị lớn hơn lƣợng giá trị ban đầu.