CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN VÀ PHÁT TRIỂN CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 ngày 20/11/2017 thì Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay phục vụ nhu cầu đời sống và hoạt động sản xuất kinh doanh là việc tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Giá trị của khoản vay thường nhỏ lẻ nhưng số lượng KH chiếm tỷ lệ lớn Khách hàng cá nhân (KHCN) vay vốn tại NHTM thường là các cá nhân, hộ kinh doanh, hộ gia đình với thu nhập đa số ở mức trung bình nhưng ổn định. Nhu cầu vay vốn của KHCN chủ yếu phục vụ mục đích tiêu dùng như mua ô tô, xây dựng, sửa chữa nhà ở, du học hay phục vụ sản xuất kinh doanh của chính cá nhân, hộ kinh doanh đó. Quy mô kinh doanh của KHCN thường không lớn, đa phần tập trung ở các ngành nghề nhỏ lẻ hoặc siêu nhỏ, yêu cầu về trang thiết bị kỹ thuật thấp nên mức vốn vay của KHCN cũng chỉ ở mức thấp và trung bình. 13 Hiện nay, số lượng món vay của KHCN đang dần chiếm tỷ lệ đáng kể trong tổng số món vay của NHTM.
Với sự phát triển của nền kinh tế, mở ra nhiều loại hình kinh doanh là điều kiện thuận lợi giúp cho KHCN có cơ hội đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, theo đó nhu cầu vay vốn đặc biệt là các khoản tín dụng trung bình và nhỏ tăng lên rất nhiều đã dẫn đến sự tăng mạnh về số lượng các món vay của KHCN tại các NHTM trong nước. Chi phí tính trên mỗi đồng cho vay KHCN thường lớn hơn các khoản vay doanh nghiệp So với các khoản vay của khách hàng doanh nghiệp, quy mô của khoản vay KHCN là khá nhỏ, trong khi đó chi phí cho các hoạt động kiểm tra, giám sát thì không ít hơn. Cùng với đó, vì số lượng khách hàng đông, lại phân tán rộng khiến cho việc thu thập thông tin khách hàng cũng gặp nhiều khó khăn dẫn đến chi phí cho vay tính trên một đồng vốn đối với KHCN là khá cao. Khó kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng vốn của khách hàng Với đặc thù KHCN vay vốn chủ yếu là thực hiện mục đích tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, các loại hình kinh doanh rất đa dạng, phức tạp, phân bố rộng đồng thời sổ sách hoạt động của KHCN không được thực hiện nghiêm túc hoặc không có.
Nguồn thông tin phục vụ cho vay thường không đầy đủ, không chính xác, việc kiểm tra khoản vay trước, trong và sau khi cho vay gặp rất nhiều khó khăn đối với CBTD trong công tác thẩm định, theo dõi tình hình hoạt động kinh doanh cũng như những biến động bất thường của KHCN. Thủ tục của khoản vay đơn giản, gọn nhẹ hơn khách hàng doanh nghiệp Tâm lý chung của KHCN thường ngại các thủ tục rườm rà, thời gian làm thủ tục kéo dài, đồng thời phải tiết kiệm chi phí, do vậy yêu cầu về thủ tục trong việc cho vay của ngân hàng cần phải đơn giản, tiết giảm các yêu cầu về giấy tờ tối giản nhất, tránh để tránh KHCN đi lại nhiều lần gây lãng phí 14 thời gian, tiền bạc của khách hàng và ngân hàng. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân - Căn cứ vào thời hạn cho vay: cho vay KHCN được phân thành các loại sau: + Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn của khoản vay dưới 12 tháng. Cho vay ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của KHCN, hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu, tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân, hộ gia đình, hộ kinh doanh.
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn của khoản vay từ 12 - 60 tháng. Mục đích của cho vay trung hạn là để đáp ứng nhu cầu đầu tư tài sản cố định, đầu tư các dự án mới, các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh. Các khoản vay trung hạn thích hợp cho các đối tượng cần vốn ngay mà không có khả năng xoay vốn để trả nợ, khả năng luôn chuyển vốn chậm và đối tượng đó cần thời gian dài để xoay vòng vốn và trả các khoản vay tiêu dùng. + Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn của khoản vay là trên 60 tháng.
Cho vay dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn đầu tư vào các hạng mục như đầu tư bất động sản, bổ sung, thay thế, cải tạo nhà xưởng giúp tăng hiệu suất kinh doanh của cá nhân, hộ sản xuất, hộ kinh doanh. - Căn cứ vào phương thức cho vay: cho vay được phân loại như sau: + Cho vay từng lần: Là hình thức cho vay mà theo đó khách hàng phải làm bộ hồ sơ vay cho một lần nhất định với mức tín dụng mà khách hàng và ngân hàng thỏa thuận. Cho vay từng lần được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 27 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành đó là: Mỗi lần cho vay, tổ chức tín dụng và khách 15 hàng thực hiện thủ tục cho vay và ký kết thỏa thuận cho vay. + Cho vay theo hạn mức: Là hình thức cho vay mà ở đó ngân hàng sẽ cấp một hạn mức vay và khách hàng duy trì mức dư nợ không vượt quá hạn mức đã cấp.
Theo phương thức cho vay này khách hàng được ngân hàng xác định cho một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định để làm căn cứ cho việc vay lần sau, trong đó hạn mức cho vay và thời hạn cho vay sẽ được thể hiện trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên. Mỗi năm ít nhất một lần, ngân hàng sẽ tiến hành xem xét để xác định lại hạn mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này. Mục đích của phương thức cho vay từng lần nhằm đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn lưu động, hoặc thiếu hụt vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng. + Cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Là hình thức cho vay mà ở đó ngân hàng chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa để thực hiện dịch vụ thanh toán trên tài khoản thanh toán.
Mức thấu chi tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian tối đa 01 (một) năm. + Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà tiền lãi và gốc mỗi tháng bằng nhau. Tùy thuộc nhu cầu cũng như khả năng trả nợ của mỗi khách hàng mà có thời hạn cũng như hạn mức trả vay khác nhau. - Căn cứ vào hình thức bảo đảm tiền vay: cho vay KHCN được phân loại thành: + Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà ngân hàng nắm giữ tài sản của người đi vay với mục đích xử lý tài sản đó để thu hồi nợ vay khi người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng.
Nghĩa vụ trả nợ dự phòng của khách hàng được cam kết bảo đảm thực hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay của khách hàng vay hoặc bảo đảm bằng tài sản của bên thứ ba. 16 + Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: Là hình thức cho vay mà nghĩa vụ trả nợ của khách hàng dựa trên uy tín của chính người đi vay, nguồn thu thập khách hàng, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án, dự án vay, năng lực tài chính, nguồn trả nợ dự phòng của khách hàng vay hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. - Căn cứ vào mục đích vay vốn của khách hàng: cho vay KHCN được phân loại thành: + Cho vay tiêu dùng: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng trang trải nhu cầu nhà ở, mua sắm đồ dùng gia đình, xe cộ, giáo dục, y tế và các dịch vụ khác.
+ Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh: Là các khoản vay mà vốn vay được khách hàng sử dụng để bổ sung vốn cho nhu cầu mua sắm, xây dựng tài sản cố định phục vụ sản xuất kinh doanh, bổ sung vốn lưu động cho các cá nhân, hộ gia đình. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Đối với kinh tế - xã hội Cho vay khách hàng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để cá nhân, HKD, hộ gia đình có cơ hội và kịp thời thực hiện các kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư, hỗ trợ trang trải các chi phí hay thỏa mãn các nhu cầu trong đời sống từ nhu cầu thiết yếu đến xa xỉ, nhờ đó mà chất lượng cuộc sống được nâng cao. Thêm vào đó, Việt Nam sở hữu dân số trẻ với nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao, với 3 triệu người đã tham gia tầng lớp trung lưu toàn cầu trong giai đoạn 2016 – 2018. Đây là những động lực kích thích chi tiêu cá nhân, giúp Việt Nam trở thành quốc gia có tỷ lệ chi tiêu tiêu dùng trong GDP cao thứ hai trong khối ASEAN 5.
Cho vay cá nhân sẽ tạo ra sự năng động cho các thành phần kinh tế, kích cầu tiêu dùng cá nhân, qua đó làm tăng sản lượng và tạo 17 thêm các cơ hội việc làm, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Đặc biệt, trong thời kì hậu Covid 19, cho vay cá nhân đặc biệt là cho vay tiêu dùng sẽ kích thích dòng tiền lưu chuyển nhanh hơn, kích thích nhu cầu mua sắm, tiêu thụ sản phẩm, giảm thiểu tồn kho.