CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHCN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Tại mỗi quốc gia, ngân hàng thương mại lại được định nghĩa theo những cách khác nhau. Wikipedia đưa ra định nghĩa “Ở Mỹ, NHTM được hiểu là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính”.
Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) lại định nghĩa: "NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính". Còn tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, NHTM được định nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này 6 nhằm mục tiêu lợi nhuận. “Các hoạt động ngân hàng” được đề cập trong luật gồm có: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Đặc biệt, tại Việt Nam, NHTM đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc gia.
NHTM huy động vốn từ những chủ thể thiếu vốn qua hoạt động nhận tiền gửi và cung cấp nguồn vốn đó cho những chủ thế thiếu vốn, từ đó NHTM đã giúp đẩy mạnh sự phát triển của các ngành trong nền kinh tế, giúp tăng thu nhập quốc dân. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành, dẫn dắt các luồng tiền hay việc điều chỉnh lãi suất và tỷ giá theo chỉ đạo của NHNN, các NHTM còn là công cụ để nhà nước điều tiết nền kinh tế ổn định, phát triển bền vững. Khái niệm cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại Khái niệm cho vay nói chung được đưa ra trong Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 như sau: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Đối tượng “khách hàng” xuất hiện trong khái niệm trên chính là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn để đầu tư vào hoạt động SXKD hoặc tiêu dùng.
KHCN tại các NHTM thường gồm có một người hoặc một nhóm người (hộ gia đình) có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật có nhu cầu, mong muốn hoặc đang sử dụng các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Tại Việt Nam, KHCN có quy mô lớn và có xu hướng gia tăng trong những năm tiếp theo. Ngoài ra, nhóm khách hàng này cũng vô cùng đa dạng với tuổi tác, giới tính, mức thu nhập, trình độ văn hóa và sở thích khác nhau. Chính vì những đặc điểm trên mà nhóm KHCN có nhu cầu rất phong phú đối với các sản phẩm cho vay của NHTM Qua những khái niệm trên ta có thể hiểu: “Cho vay KHCN là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho một người hoặc một hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi” 7 1.
Các hình thức cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại Dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển, các NHTM càng có nhiều hình thức cho vay KHCN khác nhau nhằm đáp ứng kịp thời những nhu cầu đa dạng của khách hàng. Sau đây là một vài tiêu chí phân loại các khoản cho vay KHCN a) Căn cứ vào mục đích vay Căn cứ vào mục đích vay có thể phân loại cho vay KHCN thành ba loại: Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích cư trú: Là các khoản cho vay nhằm phục vụ nhu cầu xây dựng, mua sắm hoặc cải tạo nhà ở của cá nhân, hộ gia đình, thời gian vay dài và quy mô vay lớn. Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích tiêu dùng: Là các khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắm phương tiện, đồ dùng sinh hoạt, du lịch, học hành, giải trí,… Quy mô vay nhỏ, thời gian ngắn, rủi ro thấp hơn cho vay phục vụ mục đích cư trú. Cho vay KHCN nhằm phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh: khoản vay để thực hiện các phương án SXKD nhỏ ở từng hộ gia đình, vay để buôn bán, thuê cửa hàng,… Thời hạn vay thường dài, rủi ro của khoản cho vay này rất cao.
b) Căn cứ vào phương thức hoàn trả Cho vay KHCN trả một lần khi đáo hạn: Là các khoản vay ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu tiền mặt tức thời và được thanh toán một lần khi khoản vay đáo hạn. Quy mô tương đối nhỏ, các khoản vay trả một lần thường ngắn hạn và được dùng để chi trả cho các chuyến đi nghỉ, mua các dụng cụ gia đình hoặc sửa chữa ô tô, nhà ở… Rủi ro các món vay này là không lớn lắm. Cho vay trả góp: Là khoản cho vay ngắn hạn hoặc trung hạn được thanh toán làm hai hoặc nhiều lần liên tiếp (thường theo tháng hoặc quý), tùy theo thỏa thuận giữa ngân hàng và KHCN, tài trợ cho việc mua sắm các vật dụng đắt tiền như ô tô, nhà,… hoặc để tài trợ cho các phương án SXKD, thuê cửa hàng, mua sắm các tài sản lưu động khác,… 8 Cho vay theo thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng cung cấp một dòng tín dụng thường xuyên và quay vòng mà khách hàng có thể sử dụng bất cứ khi nào họ có nhu cầu, KHCN có thể vay trả dần hoặc trả một lần vì họ có thể tính tiền mua hàng vào tài khoản thẻ tín dụng của mình. c) Căn cứ vào hình thức cho vay Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh của các doanh nghiệp đã bán chịu hàng hoá hoặc đã cung cấp các dịch vụ cho KHCN của họ, theo hình thức này ngân hàng cho vay thông qua các doanh nghiệp bán hàng hoặc làm các dịch vụ mà không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng.
Cho vay trực tiếp: Là hình thức cho vay mà ngân hàng và khách hàng trực tiếp gặp nhau để tiến hành cho vay hoặc thu nợ. d) Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay Cho vay có tài sản bảo đảm: Là cho vay với tài sản bảo đảm là bất động sản, động sản… hình thành từ vốn vay hoặc tài sản thuộc sở hữu của khách hàng trước khi vay vốn của Ngân hàng. Tài sản bảo đảm làm tăng tính an toàn cho khoản vay do Ngân hàng có thể tạo áp lực để buộc khách hàng phải trả nợ hoặc trong tình huống xấu nhất khách hàng không trả được nợ thì việc phát mại tài sản bảo đảm cũng giúp giảm bớt tổn thất cho Ngân hàng Cho vay không có tài sản bảo đảm: Là hình thức cho vay dựa trên uy tín (tín chấp) hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, không có tài sản bảo đảm. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay.
Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả nợ vay (công chức, viên chức trong biên chế nhà nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn ,…), ngoài ra thu nhập hình thành từ SXKD cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn trả nợ. Hình thức này phù hợp với những khoản vay giá trị không lớn, thời hạn vay ngắn. Đặc điểm cho vay KHCN tại ngân hàng thương mại Khác với khách hàng doanh nghiệp, KHCN của các NHTM thường có số lượng lớn, nhu cầu vay đa dạng, phong phú hơn. Chính vì vậy, các sản phẩm cho vay KHCN tại NHTM cũng có những đặc điểm đặc trưng, gắn liền với đặc điểm của nhóm khách hàng này: Thứ nhất: Quy mô mỗi khoản vay đối với cho vay KHCN thường nhỏ do đối tượng mục tiêu của cho vay cá nhân là những cá nhân, hộ gia đình với mục đích chủ yếu là tiêu dùng, mua nhà, mua xe,… hay kinh doanh với quy mô và nhu cầu vốn nhỏ hơn nhiều so với KHDN.
Mặt khác, số lượng khoản vay cá nhân tại các NHTM lại rất lớn do số lượng KHCN nhiều cùng với nhu cầu vay vô cùng đa dạng. Điều này gây nên một số khó khăn cho phía NHTM khi chi phí cho thẩm định khoản vay, giám sát thu nợ sau cho vay khá cao. Số lượng khoản vay lớn còn làm tăng nguy cơ rủi ro đạo đức xảy ra tại NHTM, tuy nhiên cũng giúp các ngân hàng giảm bớt rủi ro tập trung. Thứ hai: Mục đích vay của KHCN rất phong phú như vay để tiêu dùng, mua sắm hàng hóa, mua nhà, mua xe, sửa nhà,… và có cả cá nhân, hộ gia đình vay với mục đích đầu tư, SXKD.
Mặc dù mục đích vay rất đa dạng nhưng nhu cầu của KHCN lại rất dễ biến động phụ thuộc theo sự biến động của chu kỳ kinh tế, tỷ lệ lạm phát. Khi nền kinh tế suy thoái, lạm phát gia tăng, khách hàng sẽ hạn chế các khoản vay tiêu dùng không cần thiết và thận trọng trong việc đầu tư SXKD. Ngược lại, khi nền kinh tế tăng trưởng, KHCN sẽ có nhu cầu lớn hơn cho tiêu dùng, mua sắm, có nhiều cơ hội trong làm ăn, sản xuất hơn từ đó sẽ vay ngân hàng nhiều hơn so với giai đoạn suy thoái. Thứ ba: Cho vay KHCN thường có rủi ro cao hơn cho vay KHDN hay những hoạt động tín dụng khác.
Điều này là do thu nhập của KHCN dễ có biến động cao khi có sự thay đổi của những điều kiện chủ quan của khách hàng như tuổi tác, tình trạng sức khỏe, sự cố bất thường,… hay những điều kiện khách quan như điều kiện kinh tế, xã hội, thiên tai, dịch bệnh,…Việc các NHTM gặp khó khăn trong thẩm định tài chính và đạo đức KHCN một cách đầy đủ, chính xác cũng là một yếu tố làm tăng rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN.