Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tài liệu Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu Chương 3: Thực trạng phát triển cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt Chương 4: Giải pháp, kiến nghị 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Cho vay khách hàng cá nhân là một trong những mảng nghiệp vụ tín dụng quan trọng đối với hệ thống NHTM tại Việt Nam nói chung và tại BAOVIET Bank nói riêng, chính vì vậy, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực phát này. Một trong những nghiên cứu đó là luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Minh Sơn về “Phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” (Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 2009): Luận văn được tác giả nghiên cứu tập trung vào hoạt động cho vay tiêu dùng tại Vietcombank (giai đoạn 2006-2008) – một trong những ngân hàng TMCP có quy mô, thương hiệu và uy tín hàng đầu Việt Nam.
Luận văn đã nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm của các Ngân hàng nước ngoài như Union-Philipin, kinh nghiệm của Ngân hàng Standard Chartered-Singapore, kinh nghiệm của Ngân hàng Citibank – Nhật Bản. Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để phát triển cho vay tiêu dùng tại Vietcombank. Tuy nhiên, do đặc thù của Vietcombank là một ngân hàng lớn, có nhiều lợi thế về bán lẻ cũng như thị phần khách hàng cá nhân sử dụng dịch vụ thẻ, các giải pháp của tác giả Lê Minh Sơn đưa ra chủ yếu tập trung khai thác và tiếp thị các sản phẩm tín dụng cũ với thị trường lợi thế sẵn có của một ngân hàng lớn, không phù hợp với điều kiện, quy mô và thị phần khách hàng của Ngân hàng TMCP Bảo Việt (có đặc thù là ngân hàng quy mô nhỏ, thời gian hoạt động chưa lâu, thị phần khách hàng hiện còn thấp). Luận văn thạc sỹ của Nguyễn An Khang (Học viện tài chính,2009) về “Mở rộng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình” nghiên cứu về cho vay tiêu dùng và mở rộng hoạt động này tại Ngân hàng An Bình.
Ưu điểm của luận văn này là đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của các khách hàng hiện hữu của Ngân hàng trong các địa bàn khác nhau, từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phù hợp. Tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả Nguyễn An Khang tập trung vào giai đoạn từ năm 2008- 2010. Đặc điểm kinh tế xã hội của thời kỳ này có nhiều khác biệt so với hiện nay do (i) hiện nay tác động của khủng hoảng kinh tế đã tác động nhiều tới nhu cầu vay vốn cá 4 nhân phục vụ tiêu dùng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh và(ii) giai đoạn 2008-2009 trước đây thị trường bất động sản phát triển đột biến, nhu cầu người dân mua bán bất động sản để đầu tư tăng cao, dẫn đến sự phát triển nóng của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Kết quả của nghiên cứu này đã không còn phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội hiện nay.
Bên cạnh đó, một hạn chế nữa của nghiên cứu trên là chưa phân tích đủ các yếu tố tác động, đặc biệt thiếu việc khảo sát nhu cầu, sự hài lòng của khách hàng vay vốn tại ngân hàng để tìm ra các điểm hạn chế trong quy trình cấp tín dụng gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình tiếp cận vốn. Điều này dẫn đến kết luận thực trạng phát triển cho vay KHCN tại Ngân hàng TMCP Anh Bình không chuẩn xác, đề xuất các giải pháp không đồng bộ. Luận văn thạc sỹ của Huỳnh Nguyễn Đức Huy (Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh, 2007) về “Nâng cao chất lượng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quốc doanh – Thành phố Hồ Chí Minh tập trung nghiên cứu về cho vay khách hàng cá nhân nhưng đối tượng nghiên cứu là chất lượng hoạt động của hoạt động này.
Luận văn chỉ ra những điểm tồn tại và hạn chế của việc cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng Quốc doanh và đưa ra các giải pháp để nâng cao chất lượng của hoạt động này qua việc tăng cường quản lý rủi ro và giảm thiểu nợ xấu đối với hoạt động cho vay cá nhân, định hướng phát triển hoạt động này của ngân hàng Quốc doanh nói riêng và các ngân hàng thương mại nói chung. Mặc dù cũng đề cập đến việc cho vay khách hàng cá nhân, nhưng Huỳnh Nguyễn Đức Huy tập trung vào các giải pháp, kiến nghị đểnâng cao chất lượng cho vay khách hàng cá nhân, thay vì mở rộng phát triển hoạt động này. Luận văn thạc sỹ của Trần Hạnh Khôi (Đại học kinh tế Quốc dân, 2010) về “Phát triển cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á” đã phân tích được các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Đông Nam Á, từ đó kết luận thực trạng và kiến nghị giải pháp phù hợp để phát triển cho vay KHCN tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á Tuy nhiên, tác giả Trần Hạnh Khôi đã chưa phân tích đủ các yếu tố tác động, đặc biệt thiếu việc khảo sát nhu cầu, sự hài lòng của khách hàng vay vốn tại ngân hàng 5 để tìm ra các điểm hạn chế trong quy trình cấp tín dụng gây khó khăn cho ngân hàng trong quá trình tiếp cận vốn. Điều này dẫn đến kết luận thực trạng phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á không chuẩn xác, đề xuất các giải pháp không đồng bộ.
Nhìn chung các nghiên cứu bàn về phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại đã khẳng định được tầm quan trọng của việc phát triển cho vay khách hàng cá nhân trongquá trình phát triển của ngân hàng.Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây về vấn đề này chưa tập trung kiểm định được mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng dịch vụ với sự hài lòng của khách hàng. Bên cạnh dó, hầu hết các nghiên cứu tập trung cải thiện yếu tố nội lực, sẵn có của ngân hàng mà chưa có những giải pháp, ý tưởng về những sản phẩm mới, tập trung vào thị trường riêng, phù hợp với đặc điểm và quy mô của từng ngân hàng. Bên cạnh đó cũng chưa có nghiên cứu nào xem xét tình hình kinh tế tương tự những năm gần đây, với những sự thay đổi tương đối lớn về điều kiện kinh tế xã hội, cung cầu của thị trường và sự ổn định cũng như kỳ vọng vào sự phát triển trở lại của thị trường bất động sản, một trong những sản phẩm hàng hóa phổ biến giai đoạn 2008-2009 của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân. Những lý do nêu trên là cơ sở và mục tiêu khai thác để tác giả thực hiện đề tài “Phát triển cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bảo Việt”.
Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Theo Điều 4 Luật số 47/2010/QH12 về các Tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/01/2011: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy, ngân hàng thương mại là một hình thức ngân hàng hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, với những đặc điểm sau đây: + Trung gian tài chính: 6 Với chức năng này, NHTM trở thành một trung gian chuyển rủi ro trong nền kinh tế.NHTM nhận các nguồn tài chính từ những người cho vay và chuyển nguồn tài chính này đến những người đi vay thông qua hoạt động tín dụng.Cũng bằng cách này, NHTM chuyển đi và nhận về các nguồn tài chính từ các định chế tài chính khác.Khi làm như vậy, NHTM đã tạo lập kênh rủi ro giữa các chủ thể kinh tế. Do đó, khi một chủ thể kinh tế gặp rủi ro, nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, rủi ro sẽ lan truyền và nhân rộng thiệt hại trong nền kinh tế.
+ Kinh doanh có điều kiện: Việc thành lập và hoạt động NHTM phải thỏa mãn các quy định của NHNN như quy định về vốn, thành viên sáng lập, điều lệ tổ chức hoạt động, điều kiện về sở giao dịch, chi nhánh, văn phòng đại diện, thành lập công ty. Các quy định về hoạt động huy động vốn, tín dụng, dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, các hoạt động khác. + Hoạt động của NHTM bị kiểm soát chặt chẽ: NHTM là loại hình doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa đặc biệt – hàng hóa tiền tệ.Đa phần trong đó là các khoản tiền gửi phải trả khi có yêu cầu. Do vậy, hoạt động ngân hàng có nhiều rủi ro tiềm ẩn.
Nhằm đảm bảo cho cả hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định, an toàn và có hiệu quả, NHNN tiến hành thanh tra và kiểm soát chặt chẽ các hoạt động của NHTM. + Vốn và tài sản: Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của NHTM.Nguồn vốn của NHTM chủ yếu được hình thành từ nguồn tiền gửi.Đây là nguồn tiền quan trọng nhất.Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các cá nhân và tổ chức cho tiền tạm thời nhàn rỗi. Ngoài ra, nguồn đi vay, nguồn ủy thác, nguồn trong thanh toán. cũng là một trong những nguồn hình thành nên vốn của NHTM.
NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ nên phần lớn tài sản là các tài sản tài chính: hợp đồng cho vay, hợp đồng thuê - mua, các chứng từ có giá. Một phần nhỏ trong tài sản của NHTM là các tài sản cố định như nhà cửa, trang thiết bị. Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại - Mua bán ngoại tệ: Ngân hàng thực hiện dịch vụ này bằng cách mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng lợi nhuận. - Nhận tiền gửi: Nhận tiền gửi là một trong những dịch vụ quan trọng nhất của NHTM.
Ngân hàng mở dịch vụ nhận tiền gửi để bảo quản hộ người có tiền với cam kết hoàn trả đúng hạn. - Cho vay: Cho vay là hoạt động mang lại nguồn thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. NHTM sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi thu hút được từ các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế để cho vay, chủ yếu là cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, tài trợ dự án.