CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BAO THANH TOÁN 1.1 Giới thiệu về bao thanh toán 1.1 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Bao thanh toán 3 Sự phát triển của dịch vụ Bao thanh toán hiện đại ở Hoa Kỳ, Vào nửa cuối thế kỷ 19, vai trò của người Bao thanh toán Hoa Kỳ thay đổi hoàn toàn. Sự cải thiện trong hệ thống giao thông, vận tải và truyền thông đồng nghĩa với việc người xuất khẩu không cần phải ký gởi hàng hóa. Sản phẩm có thể bán thông qua các đại lý tại địa phương sử dụng các mẫu và gởi thẳng cho người mua Do đó, người xuất khẩu không cần các dịch vụ kho bãi, tiếp thị và phân phối nhưng nhiều người muốn có được các dịch vụ tài chính của các đơn vị Bao thanh toán. 3 Ở châu Âu Phương pháp huy động tiền thông qua việc chuyển nhượng các khoản phải thu đã được sử dụng ở châu Âu nhiều thế kỷ nay.
Dịch vụ này phát triển mạnh mẽ vào thập niên 50 của thế kỷ 20 đặc biệt ở Luân Đôn. Nó rất hấp dẫn đối với các công ty cần thêm nguồn tài chính vì tính đơn giản trong giao dịch và sự bảo mật. 3 Châu Á-Thái Bình Dương Ơ Đông Nam Á và Đông Á, công cụ chủ yếu để đảm bảo thanh toán và huy động nguồn tài chính từ hoạt động thương mại, ít nhất là tới đầu những năm 1980, là thư tín dụng. Nhưng cũng giống như sự phát triển của Hoa Kỳ, cuộc cách mạng hiện đại về các phương tiện truyền thông và giao thông vận tải đã tạo ra tình hình làm cho thư tín dụng không còn thích hợp.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 15 - Nhu cầu cạnh tranh ngày càng tăng cũng đồng nghĩa với việc người mua không muốn cam kết vốn của mình trước khi có thể xem xét và sử dụng sản phẩm đã đặt hàng. Điều này đặt biệt đúng khi các nhà xuất khẩu châu Á Thái Bình Dương cố gắng tăng giao dịch thương mại của họ với người mua ở Châu Âu và Châu Mỹ. Do đó, động lực ban đầu cho sự phát triển dịch vụ Bao thanh toán ở khu vực này là dịch vụ Bao thanh toán giữa các nước nhưng các số thống kê FCI về khối lượng Bao thanh toán trên toàn thế giới cho thấy Bao thanh toán trong nước cũng phát triển rất nhanh chóng.2 Khái niệm Bao thanh toán Theo Công ước Bao thanh toán quốc tế 1988, Bao thanh toán (factoring) là một dạng tài trợ bằng việc mua bán các khoản nợ ngắn hạn trong giao dịch thương mại giữa tổ chức tài trợ và bên cung ứng, theo đó tổ chức tài trợ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau: Tài trợ bên cung ứng gồm cho vay và ứng trước tiền, quản lý sổ sách liên quan đến các khoản phải thu, thu nợ các khoản phải thu, bảo đảm rủi ro không thanh toán của bên mua. Theo Hiệp hội Bao thanh toán thế giới (FCI), Bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm, rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ.
Theo quy chế hoạt động Bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đưa ra định nghĩa về Bao thanh toán: “Bao thanh toán là một hình thức cấp tín dụng qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã được bên bán hàng và bên mua hàng hóa và sử dụng dịch vụ thỏa thuận trong hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.” (Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN và số 30/2008/QĐ- NHNN) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 16 - Qua những khái niệm trên, Bao thanh toán liên quan các bên: Tổ chức tín dụng thực hiện Bao thanh toán và khách hàng được tín dụng Bao thanh toán. Tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ Bao thanh toán là các tổ chức thành lập và hoạt động theo Luật các Tổ chức tín dụng bao gồm: Ngân hàng thương mại Nhà nước, Ngân hàng thương mại cổ phần, Ngân hàng Liên doanh, Ngân hàng 100% vốn nước ngoài, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Công ty tài chính. Khách hàng được tổ chức tín dụng Bao thanh toán là các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hóa và được thụ hưởng các khoản phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa theo thỏa thuận giữa bên bán bên mua hàng tại hợp đồng mua, bán hàng. Thuật ngữ “Bao thanh toán” bao gồm cả Factoring và Forfaiting, còn được dịch ra tiếng Việt là bao thanh toán tuyệt đối và bao thanh toán tương đối.
Phạm vi luận văn nghiên cứu đến chỉ đề cập đến bao thanh toán tương đối (Factoring), là sản phẩm bao thanh toán được áp dụng tại Việt Nam.3 Các chức năng của Bao thanh toán Như ta đã biết trong định nghĩa về Bao thanh toán của UNIDROIT, Bao thanh toán có bốn chức năng: 1.1 Tài trợ Một trong những yếu tố chính khiến nhu cầu vốn lưu động bổ sung tăng lên là do sự tăng trưởng của các khoản phải thu. Trong hợp đồng Bao thanh toán, người Bao thanh toán đồng ý trả cho người bán một phần lớn (80%) giá trị của khoản phải thu hợp lệ* ngay khi phát sinh khoản phải thu này. Người bán sẽ nhận được số tiền còn lại khi người Bao thanh toán nhận được tiền từ người mua. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 17 - Người bán không phải chờ đến khi kết thúc thời hạn tín dụng mới nhận được tiền.
Một phần lớn vốn lưu động của anh ta trở thành vốn lưu động để sử dụng ngay và nếu anh ta sử dụng hợp lý sẽ góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng của công ty người bán. *khoản phải thu hợp lệ phụ thuộc vào loại hình Bao thanh toán khi sử dụng: đối với Bao thanh toán trọn gói hay Bao thanh toán đầy đủ (full service factoring), khoản phải thu hợp lệ là khoản phải thu được bảo hiểm tín dụng và đối với Bao thanh toán có truy đòi, đây sẽ là khoản phải thu đáp ứng các tiêu trí kiểm soát nhất định.2 Quản lý sổ cái các khoản phải thu Đơn vị Bao thanh toán đưa các tài khoản của người mua vào sổ sách của mình và cập nhật các tài khoản này khi phát sinh tất cả các giao dịch: hóa đơn, giấy nhận nợ, các khoản thanh toán….Khi cần, Đơn vị Bao thanh toán gởi sao kê cho người mua, trong đó nêu rõ phải trả khoản gì cho người Bao thanh toán và khoản tiền này được tính toán như thế nào. Người bán nhận được báo cáo thường xuyên về tình trạng sổ cái và do đó có thể được thông báo đầy đủ về hoạt động của người mua.3 Nhờ thu các khoản phải thu Một trong những vấn đề của phương thức thanh toán tài khoản mở là không có phương tiện khởi tạo thanh toán tự động từ người mua như trong trường hợp sử dụng Hối phiếu được chấp nhận thanh toán. Do đó, hệ thống quản lý của người Bao thanh toán được xây dựng nhằm đưa ra cho người mua thư yêu cầu thanh toán một cách có hệ thống cung cấp cho các nhân viên thực hiện nghiệp vụ nhờ thu các thông tin cần thiết để đòi tiền thanh toán từ người mua qua điện thoại khi cần thiết.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4 Bảo hiểm rủi ro tín dụng − Nếu người mua không thanh toán, người Bao thanh toán sẽ trả cho người bán thường là 100% trị giá khoản phải thu được bảo hiểm rủi ro tín dụng khi: − Người mua mất khả năng thanh toán (theo định nghĩa trong hợp đồng); hoặc − Khoản phải thu đã quá hạn 90 ngày kể từ ngày đến hạn ghi trên hóa đơn. Thời hạn này có thể thay đổi tùy từng hợp đồng trong nước- một số người Bao thanh toán không có thời gian bảo lãnh trong hợp đồng nhưng họ sẽ thanh toán nếu và khi người mua bị mất khả năng thanh toán, theo quy định trong hợp đồng Bao thanh toán. 3 Không truy đòi: thỏa thuận này thường được đề cập đến là “không truy đòi” hay “miễn truy đòi” – nói cách khác, người Bao thanh toán không thể đòi người bán trả lại tiền nếu người mua không có khả năng chi trả, mà người Bao thanh toán sẽ phải tự chịu tổn thất. Ngược lại, “có truy đòi” trong trường hợp người Bao thanh toán không cấp bảo hiểm rủi ro tín dụng và người bán sẽ phải tự chịu tổn thất về nợ xấu.
3 Khoản phải thu được bao hiểm rủi ro: Một khoản phải thu được bảo hiểm rủi ro tín dụng là khoản nằm trong hạn mức bảo hiểm rủi ro tín dụng hiện tại mà người Bao thanh toán đồng ý cấp cho người mua và khoản đó không bị tranh chấp. Việc cấp hạn mức này không hạn chế người bán khỏi việc giao dịch vượt ra ngoài hạn mức đó nhưng phần vượt trội đó do anh ta tự chịu rủi ro. Không phải tất cả người mua đều có thể được bảo hiểm rủi ro tín dụng cho 100% cho các khoản phải thu của mình. Ngay khi người bán bắt đầu thương TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - 19 - lượng với một người mua, người bán cần phải xin một hạn mức bảo hiểm rủi ro tín dụng.
Sau đó, Phòng tín dụng sẽ tiến hành đánh giá rủi ro của người mua. Quyết định của họ có thể là cấp toàn bộ hạn mức theo yêu cầu hoặc trên cơ sở xem xét các thông tin nhận được để phê chuẩn một giá trị nhỏ hơn hoặc thậm chí từ chối toàn bộ hạn mức đó.4 Phân loại Bao thanh toán 1.1 Căn cứ theo ý nghĩa bao hiểm rủi ro thanh toán - Bao thanh toán truy đòi (recourse factoring): là loại nghiệp vụ Bao thanh toán theo đó nếu người mua hàng không trả được nợ hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì người bán hàng có trách nhiệm hoàn trả lại khoản tiền đã được ứng trước cho đơn vị Bao thanh toán. - Bao thanh toán miễn truy đòi (non-recourse factoring): là loại nghiệp vụ Bao thanh toán mà đơn vị Bao thanh toán phải chịu mọi rủi ro về tín dụng và không được đòi lại khoản tiền đã ứng trước cho người bán hàng, trong trường hợp người mua hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. So với Bao thanh toán truy đòi, Bao thanh toán miễn truy đòi bao gồm luôn cả bảo hiểm rủi ro trả nợ.2 Căn cứ theo thời hạn - Bao thanh toán ứng trước (Bao thanh toán chiết khấu): là loại Bao thanh toán theo đó đơn vị Bao thanh toán chiết khấu các khoản phải thu trước ngày đáo hạn và ứng trước tiền cho đơn vị bán hàng (có thể đến 80% trị giá hóa đơn).