Pháp Luật Về Quản Trị, Điều Hành Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Ở Việt Nam

Tìm hiểu pháp luật về quản trị, điều hành ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Cập nhật quy định mới nhất, giúp bạn nắm vững kiến thức quan trọng.

Trường đại học

Đại Học Quốc Gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan Pháp Luật Quản Trị và Điều Hành NHTMCP tại VN

Từ khi Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường và gia nhập WTO, quản trị doanh nghiệp trở nên cấp thiết, đặc biệt với NHTMCP. Quản trị tốt giúp tiếp cận tài chính, đầu tư và tăng trưởng. Ngân hàng, kênh cấp vốn chính, cần quản trị hiệu quả để tránh rủi ro dây chuyền. Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp 2005 và các văn bản khác điều chỉnh vấn đề này. Luật 2010 khắc phục một số tồn tại, nhưng vẫn còn bất cập. Tình hình thanh khoản, nợ xấu tăng, một phần do quản trị yếu kém. Đề án tái cơ cấu hệ thống tín dụng giai đoạn 2011-2015 nhấn mạnh tái cơ cấu quản trị. Luật Doanh nghiệp 2014 có thay đổi về cơ cấu quản trị. Sự gia tăng của ngân hàng nước ngoài cạnh tranh với ngân hàng trong nước. Các ngân hàng nội cần chú trọng quản trị theo tiêu chuẩn quốc tế. Vì vậy, nghiên cứu về pháp luật quản trị, điều hành NHTMCP là cần thiết.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của NHTMCP tại Việt Nam

NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần; được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Khác với NHNN, NHTM là một loại hình doanh nghiệp. Vốn và tiền vừa là phương tiện, mục đích và cũng là đối tượng kinh doanh của ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng thường thấp và kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, nên kinh doanh ngân hàng thường gắn với rủi ro. Các ngân hàng không những phải đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả như những doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng. Tại khoản 2, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng”.

1.2. Vai trò quan trọng của pháp luật về quản trị ngân hàng

NHTMCP có vai trò quan trọng trong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội, các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội, kinh tế đất nước, nếu đổ vỡ sẽ có thể gây tổn thất lớn và trên phạm vi rộng.Việc quản lý thiếu nghiêm túc, sự lạm dụng quyền lực trong nội bộ một số NHTMCP là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đe dọa hoạt động và sự ổn định của cả hệ thống tổ chức tín dụng.Do đó, việc đặt ra những quy định pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động của các NHTMCP trong đó đặc biệt là hoạt động quản trị, điều hành là vô cùng quan trọng. Đây cũng chính là công cụ để Nhà nước kiểm soát, điều hành sự vận động của kinh tế vĩ mô, trong đó có hoạt động kinh doanh tiền tệ.

II. Thách thức Quản Trị Điều Hành NHTMCP và Pháp Luật Hiện Hành

Hiện nay, tình hình thanh khoản, nợ xấu của các NHTMCP đang rất căng thẳng. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này là do sự yếu kém trong quản trị, điều hành của các ngân hàng. Vấn đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay đang được điều chỉnh bằng Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, Luật Doanh nghiệp năm 2005, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP ngày 16/07/2009 về tổ chức và hoạt động của NHTM, Thông tư số 06/2010/TT- NHNN ngày 26/02/2010 hướng dẫn về tổ chức, quản trị, điều hành, vốn điều lệ, chuyển nhượng cổ phần, bổ sung, sửa đổi giấy phép, điều lệ của NHTM.

2.1. Bất cập trong quy định về HĐQT và Ban Điều hành

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 đã khắc phục được một số quy định tồn tại về quản trị, điều hành NHTM như: nhiệm vụ, quyền hạn của HĐQT và Tổng giám đốc chưa được phân định rõ ràng và hợp lý dẫn đến tình trạng có những ngân hàng, HĐQT can thiệp quá sâu vào việc điều hành hoặc ngược lại, có những ngân hàng Ban điều hành lấn át HĐQT., hay chưa có chế độ báo cáo và công bố thông tin rõ ràng, minh bạch dẫn đến tình trạng thông tin bất cân xứng. Tuy nhiên, hệ thống văn bản điều chỉnh vấn đề quản trị, điều hành ngân hàng hiện nay thực sự vẫn chưa tương đồng, chưa nghiên cứu áp dụng triệt để các nguyên tắc chung về quản trị của thế giới (các nguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel; các nguyên tắc của OECD) và còn nhiều bất cập như quy định về thành viên HĐQT độc lập, về số vốn tối thiểu của Chủ tịch HĐQT,…làm hạn chế hiệu quả quản trị, điều hành ngân hàng.

2.2. Hạn chế về chất lượng hoạt động và quản lý rủi ro

Từ năm 2011 và nhất là từ đầu năm 2012 đến nay, vấn đề chất lượng hoạt động của các ngân hàng đang bộc lộ nhiều vấn đề đáng báo động, vấn đề thanh khoản và nợ xấu tăng lên không ngừng. Ngoài những nguyên nhân khách quan do điều kiện, hoàn cảnh của nền kinh tế tác động thì hạn chế về quản trị, điều hành ngân hàng cũng là một yếu tố gây ảnh hưởng không nhỏ. Một định hướng quan trọng được đề ra là cơ cấu lại hệ thống quản trị trong đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015 của Thủ tướng Chính phủ.

III. Phương pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Quản Trị Ngân Hàng TMCP

Việc nghiên cứu đề tài “Pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam” hiện nay vẫn là cần thiết nhằm tìm ra những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này và nâng cao hiệu quả quản trị điều hành NHTMCP ở Việt Nam. Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về quản trị, điều hành NHTMCP; phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về vấn đề này tại một số NHTMCP. Trên cơ sở đó nêu ra những bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam.

3.1. Mục tiêu nghiên cứu hoàn thiện pháp luật ngân hàng

  • Làm rõ khái niệm quản trị, điều hành NHTMCP; những quy định của pháp luật về vấn đề quản trị, điều hành NHTMCP;
  • Đưa ra và phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam, có so sánh với thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này ở một số nước trên thế giới;
  • Trên cơ sở đó, tìm ra những bất cập, tồn tại của pháp luật Việt Nam và đề xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP.

3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu pháp luật điều hành

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP và thực tiễn áp dụng tại một số ngân hàng.
  • Phạm vi nghiên cứu: tác giả sẽ tập trung vào phân tích thực trạng pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP ở Việt Nam, trong đó có đánh giá thực trạng hoạt động áp dụng pháp luật về quản trị, điều hành ở một số NHTM nhà nước sau cổ phần hóa (Vietcombank, Vietinbank, BIDV) và một số NHTM thành lập theo hình thức công ty cổ phần từ ngay ban đầu.

IV. Pháp luật Quản Trị và Điều Hành Ngân hàng TMCP Giải pháp

Cần xây dựng một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và hiệu quả để điều chỉnh hoạt động quản trị và điều hành NHTMCP. Cần nghiên cứu và áp dụng triệt để các nguyên tắc chung về quản trị ngân hàng của thế giới, đặc biệt là các nguyên tắc quản trị ngân hàng lành mạnh của Ủy ban Basel và các nguyên tắc của OECD. Bên cạnh đó, cần khắc phục những bất cập trong các quy định hiện hành về thành viên HĐQT độc lập và số vốn tối thiểu của Chủ tịch HĐQT, để nâng cao hiệu quả quản trị và điều hành ngân hàng.

4.1. Bổ sung quy định về tiêu chuẩn và điều kiện quản trị ngân hàng

Luật cần bổ sung những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn cho các chức danh quản trị, điều hành. Đồng thời, cần điều chỉnh những quy định về tăng cường quyền lực cho cổ đông nhỏ, và bổ sung những quy định pháp luật về chế độ công khai hóa, mức độ minh bạch thông tin trong quản trị, điều hành NHTMCP.

4.2. Ngăn ngừa lạm dụng quyền lực điều hành từ cổ đông lớn

Pháp luật cũng cần bổ sung, hoàn thiện quy định nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng của những cổ đông lớn, của HĐQT và người quản lý trong quản trị, điều hành NHTMCP. Điều này đặc biệt quan trọng để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông nhỏ và đảm bảo tính công bằng, minh bạch trong hoạt động của ngân hàng. Cần có cơ chế giám sát hiệu quả để phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

V. Ứng dụng Nâng cao Quản Trị NHTMCP hướng tới hội nhập

Việc hoàn thiện pháp luật về quản trị, điều hành NHTMCP là một yếu tố quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khi các ngân hàng tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về quản trị, họ sẽ dễ dàng hơn trong việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài và mở rộng hoạt động kinh doanh ra thị trường quốc tế.

5.1. Cạnh tranh và phát triển trong môi trường hội nhập

Việc giữ thị phần và phát triển kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh gay gắt ngày càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Để có thể tự tin đứng vững và phát triển ngay tại “sân nhà” trong bối cảnh hiện nay càng đòi hỏi các ngân hàng nội, đặc biệt là các NHTMCP Việt Nam cần chú trọng đến vấn đề quản trị ngân hàng đáp ứng các tiêu chuẩn quản trị quốc tế.

5.2. Áp dụng công nghệ và chuyển đổi số trong quản trị ngân hàng

Cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động quản trị và điều hành NHTMCP. Việc này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động mà còn giúp các ngân hàng thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của thị trường tài chính và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến sẽ giúp giảm thiểu rủi ro và nâng cao tính minh bạch.

VI. Kết luận Pháp luật Quản Trị Ngân Hàng và Tương Lai

Hoàn thiện pháp luật về quản trị và điều hành NHTMCP là một quá trình liên tục và cần có sự tham gia của nhiều bên liên quan. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, các tổ chức tín dụng và các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính để xây dựng một hệ thống pháp luật hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam trong tương lai.

6.1. Sự cần thiết của giám sát và đánh giá thường xuyên

Cần có cơ chế giám sát và đánh giá thường xuyên để đảm bảo các quy định của pháp luật được thực thi nghiêm túc và hiệu quả. Điều này giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

6.2. Định hướng phát triển bền vững cho ngành ngân hàng

Hoàn thiện pháp luật về quản trị và điều hành NHTMCP không chỉ là một nhiệm vụ trước mắt mà còn là một chiến lược dài hạn để xây dựng một hệ thống ngân hàng Việt Nam vững mạnh, an toàn và hiệu quả. Điều này góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

17/05/2025
Pháp luật về quản trị điều hành ngân hàng thương mại cổ phần ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ, ĐIỀU HÀNH NHTMCP 1. Khái niệm, đặc điểm về quản trị, điều hành NHTMCP 1. Khái niệm, đặc điểm NHTMCP 1.1 Khái niệm NHTMCP Khác với NHNN, là một chủ thể kinh doanh trong đời sống kinh tế, trước tiên NHTM là một loại hình doanh nghiệp. Cũng như những doanh nghiệp khác, NHTM sử dụng các yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản phẩm dưới hình thức là cung cấp dịch vụ tài chính.

Tuy nhiên, không giống những doanh nghiệp khác, ngân hàng là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, trong đó vốn và tiền vừa là phương tiện, mục đích và cũng là đối tượng kinh doanh của ngân hàng. Vốn tự có của ngân hàng thường thấp và ngân hàng kinh doanh chủ yếu bằng vốn của người khác, nên kinh doanh ngân hàng thường gắn với rủi ro và ngân hàng phải chấp nhận mức độ mạo hiểm nhất định. Các ngân hàng không những phải đảm bảo nhu cầu thanh toán, chi trả như những doanh nghiệp khác, mà còn phải đảm bảo nhu cầu chi trả tiền gửi của khách hàng. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro, tình hình tài chính và rủi ro của ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp và nền kinh tế cũng như tâm lý người dân do bản chất lây lan rủi ro ngân hàng có thể làm rung chuyển toàn hệ thống kinh tế.

Như vậy, có thể hiểu NHTM là tổ chức hoạt động kinh doanh cung cấp các dịch vụ ngân hàng tìm kiếm lợi nhuận. Trên thế giới, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về NHTM. Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Đạo luật Ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của 7 công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính” [55].

Ở Ấn Độ, NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư. Còn ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTM là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác… [26, tr. Như vậy, dù khác nhau song các định nghĩa trên đây đều tiếp cận khái niệm NHTM thông qua hoạt động nghiệp vụ của nó. Ở Việt Nam, tại khoản 2, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng”.

Theo đó, NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, cơ sở phân biệt NHTM với các hình thức ngân hàng khác là ở “mục tiêu lợi nhuận”. Khi NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần thì có tên gọi cụ thể là NHTMCP. Ở Việt Nam hiện nay, trong 05 NHTM nhà nước thì có 03 ngân hàng đã cổ phần hóa (NHTMCP Ngoại thương Việt Nam – Vietcombank, NHTMCP Công thương Việt Nam – Vietinbank, NHTMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam); còn tất cả các NHTM tư nhân đều được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần [62, số liệu tính đến cuối năm 2014].

Từ những nhận thức trên, có thể hiểu NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần; được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của pháp luật. Xuất phát từ định nghĩa như vậy thì vấn đề quản trị, điều hành NHTMCP chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm pháp luật khác nhau, trong 8 đó cơ bản là các quy định pháp luật về các tổ chức tín dụng và quy định về các công ty cổ phần (Luật Doanh nghiệp). Đặc điểm của NHTMCP Thứ nhất, bản thân NHTMCP là doanh nghiệp đặc biệt nên hoạt động của ngân hàng cũng có những “đặc thù” so với các công ty. Đó là sự đa dạng về các đối tượng thụ hưởng nên khó quản lý.

Thành phần tham gia điều hành hoạt động của loại hình doanh nghiệp này hết sức đa dạng, phức tạp và chủ yếu phân chia lợi ích (cổ tức) theo tỷ lệ góp vốn (cổ phần). Các cá nhân, tổ chức góp vốn sẽ đều có những quyền hạn nhất định trong việc tham gia điều hành, quản trị hoạt động của doanh nghiệp. Vì vậy, việc điều chỉnh hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa các chủ thể là quan trọng nhưng hết sức phức tạp. Nếu không có những quy định hợp lý, sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng phi tổ chức, thiếu thống nhất, hoặc xuất hiện lợi ích nhóm.

Thứ hai, NHTMCP là loại hình tổ chức tín dụng kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận, song vốn tự có thường không ổn định. Hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa trên vốn huy động từ xã hội, nhưng nguồn huy động này lại chịu tác động từ nhiều yếu tố biến động như ổn định chính trị, tăng trưởng kinh tế…hoặc đôi khi chỉ là hoạt động của một ngành, một lĩnh vực lớn như bất động sản, chứng khoán…Chính vì vậy, hoạt động của NHTMCP thường chứa đựng tính rủi ro cao. Do nhiều khoản nợ ngắn hạn nên rủi ro trong hoạt động thường cao và dễ dẫn đến phá sản. Điều này đặt ra những yêu cầu nhất định của việc quản trị điều hành nhằm đưa hoạt động của NHTMCP đi vào ổn định và phát triển.

Do đó, việc đưa ra những quy định pháp luật về NHTMCP hợp lý là cực kỳ quan trọng, tạo hành lang pháp lý thống nhất để các chủ thể khi tham gia hoạt động này thực hiện. Thứ ba, NHTMCP là loại hình doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng, phân bổ nguồn vốn huy động từ xã hội, các hoạt động của 9 loại hình doanh nghiệp này có ảnh hưởng lớn đến sự ổn định xã hội, kinh tế đất nước, nếu đổ vỡ sẽ có thể gây tổn thất lớn và trên phạm vi rộng. Tại cùng một thời điểm, các ngân hàng chịu rủi ro hơn về quản trị so với doanh nghiệp thông thường vì tính không rõ ràng hay cụ thể hơn là phạm vi cát cứ, chuyển rủi ro, lợi ích của cá nhân và sự chiếm dụng công khai (hoạt động ngầm, hoạt động cho vay nội gián, chiếm đoạt…) lớn hơn so với các doanh nghiệp phi tài chính. Việc quản lý thiếu nghiêm túc, sự lạm dụng quyền lực trong nội bộ một số NHTMCP là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, đe dọa hoạt động và sự ổn định của cả hệ thống tổ chức tín dụng.

Sự khủng hoảng của hệ thống các tổ chức tín dụng trong thời gian qua và mối liên quan trực tiếp từ sự khủng hoảng của kinh doanh bất động sản là một minh chứng hết sức rõ nét cho tầm ảnh hưởng của hệ thống các tổ chức tín dụng nói chung và NHTMCP nói riêng tới toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Do đó, việc đặt ra những quy định pháp lý chặt chẽ điều chỉnh hoạt động của các NHTMCP trong đó đặc biệt là hoạt động quản trị, điều hành là vô cùng quan trọng. Đây cũng chính là công cụ để Nhà nước kiểm soát, điều hành sự vận động của kinh tế vĩ mô, trong đó có hoạt động kinh doanh tiền tệ. Khái niệm, đặc điểm của quản trị, điều hành NHTMCP 1.

Khái niệm quản trị, điều hành NHTMCP Xuất phát từ sự khác nhau về nguồn gốc thể chế pháp luật, đặc tính quốc gia, văn hóa và trình độ phát triển của thị trường tài chính mà quan niệm và nội dung của quản trị, điều hành NHTMCP ở các quốc gia khác nhau có nhiều điểm không tương đồng. Cuốn “Các nguyên tắc quản trị công ty” xuất bản năm 2004 của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế, các hành vi quản lý. Cơ chế này xác định việc phân chia các quyền và nghĩa vụ giữa cổ đông, HĐQT, các chức danh quản lý và những người có lợi ích liên quan, quy định trình tự 10 ban hành các quyết định kinh doanh. Bằng cách này, công ty tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, tạo ra phương tiện thực thi và giám sát việc thực hiện các mục tiêu đó [43].

Theo Ngân hàng Thế giới (WB): quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của các công ty. Nó cho phép công ty có thể thu hút được các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra các giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi vẫn tồn tại quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Đặc điểm cơ bản nhất của hệ thống quản trị công ty là: (i) tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý; (ii) đảm bảo thực thi các quyền của tất cả các cổ đông; (iii) các thành viên trong HĐQT có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, trong việc giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý và trong việc miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết. Các định nghĩa này cho thấy, quản trị công ty nhằm bảo vệ lợi ích của các bên liên quan chính trong các doanh nghiệp kinh doanh.

Quản trị công ty trước hết bao gồm các thiết chế điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ sở hữu với nhau và giữa họ với bộ máy điều hành trong những doanh nghiệp quy mô lớn mà sở hữu và điều hành đã bắt đầu tách rời. Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, một công ty có nhiều đối tượng hưởng lợi và những đối tượng này được phân chia thành các nhóm lợi ích xung đột với nhau. Việc quản trị sẽ cân bằng các ảnh hưởng đó một cách tối ưu cho công ty nhằm phát huy được tính hiệu quả, công khai, minh bạch, góp phần bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn và cải thiện sức mạnh cạnh tranh cho chính bản thân doanh nghiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ