CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Khái quát hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng 1. Khái niệm hợp đồng tín dụng Hợp đồng là một trong các khái niệm đầu tiên của pháp luật, được hình thành ngay từ khi con người thực hiện những giao dịch đầu tiên.
Thuật ngữ hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận bằng lời nói hoặc văn bản giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Tín dụng là hình thức cho vay khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Hiện nay, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hoạt động tín dụng từng bước hoàn thiện và phát triển thành hình thức cho vay bằng tiền tệ. Trong đó, bên cho vay cung cấp nguồn tài chính cho bên vay trong một thời hạn do hai bên thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất.
Hợp đồng tín dụng về bản chất là những hợp đồng cho vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, chỉ gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các ngân hàng. Hợp đồng tín dụng là hợp đồng vay có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa các tổ chức tín dụng (bên cho vay) với pháp nhân, cá nhân có đủ những điều kiện do luật định (bên vay). Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Theo đó tại Điều 23 của Thông tư không còn quy định bắt buộc với tên gọi “hợp đồng tín dụng” nữa mà là quy định “Thỏa thuận 8 cho vay” theo Khoản 1 của điều này có quy định về thỏa thuận cho vay phải được lập thành văn bản và phải đảm bảo một số nội dung. Như vậy, hợp đồng tín dụng có thể dùng tên gọi khác như hợp đồng vay, khế ước vay tiền chứ không bắt buộc phải dùng tên gọi “hợp đồng tín dụng” nhưng khi nói đến hợp đồng tín dụng tức là đang nói đến hợp đồng vay có một bên là tổ chức tín dụng. Sau đây gọi chung là hợp đồng tín dụng.
Như vậy, ta có thể hiểu “Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện do luật định (bên vay), theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận ứng trước một số tiền cho bên vay sử dụng trong một thời hạn nhất định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc và lãi, dựa trên sự tín nhiệm”. Đặc điểm của hợp đồng tín dụng “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận. Theo quy định này thì hợp đồng tín dụng sẽ có một số đặc điểm sau đây: Về hình thức: hợp đồng tín dụng luôn được lập thành văn bản và hầu hết là hợp đồng theo mẫu với nhiều điều khoản chặt chẽ do các tổ chức tín dụng chuẩn bị sẵn.
Về đối tượng: hợp đồng tín dụng là những khoản vốn được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Vốn tiền tệ trong hợp đồng tín dụng có thể là tiền đồng Việt Nam hoặc một số ít trường hợp vay ngoại tệ như để thanh toán tiền mua hàng quốc tế, tồn tại dưới dạng tiền mặt, vật hiện hữu hoặc bút tệ. Về chủ thể: bên cho vay trong hợp đồng tín dụng bắt buột phải là tổ chức tín dụng (bao gồm ngân hàng và tổ chức tín dụng phi ngân hàng), có đủ điều kiện theo luật định. Còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
3 Điều 17, Quyết định 20/VBHN-NHN ngày 22 tháng 5 năm 2014 của Ngân hàng Nhà nước 9 1. Phân biệt giữa hợp đồng tín dụng với hợp đồng vay tài sản STT Yếu tố Hợp đồng tín dụng Hợp đồng vay vốn 01 Chủ thể Một bên tham gia hợp đồng phải là tổ Các tổ chức, cá nhân có đầy đủ chức tín dụng có đủ điều kiện luật năng lực pháp luật và năng lực định, với tư cách là bên cho vay. Còn hành vi, một bên không nhất chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ định phải là tổ chức tín dụng chức, cá nhân thỏa mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định 02 Đối Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao Có thể là một số tiền nhất định, tượng giờ cũng là tiền (bao gồm tiền mặt và hoặc hàng hóa, dịch vụ, tài sản bút tệ). Về nguyên tắc, đối tượng của khác hợp đồng tín dụng bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong văn bản hợp đồng 03 Hình Bắt buộc bằng văn bản Không bắt buộc bằng văn bản thức 04 Tính Hợp đồng tín dụng vốn chứa đựng Nguy cơ rủi ro chia đều cho cả rủi ro nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi hai bên, thường ít rủi ro hơn của bên cho vay.
Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác 05 Cơ chế Nghĩa vụ chuyển giao tiền của bên Hai bên bình đẳng trong thực thực cho vay được thực hiện trước làm cơ hiện nghĩa vụ; việc thực hiện 10 hiện sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền trước hay sau do hai bên tự thỏa quyền và nghĩa vụ của bên đi vay. Chỉ khi thuận; việc chậm thực hiện và nào bên cho vay chứng minh họ đã nghĩa vụ của một bên không chuyển giao tiền vay theo đúng hợp được dùng làm cơ sở dễ chậm nghĩa đồng tín dụng thì mới có quyền yêu thực hiện; từ chối thực hiện vụ cầu bên đi vay thực hiện nghĩa vụ đối nghĩa vụ của bên còn lại với mình 1.
Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng: trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tính chất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích: đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từ bên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạm nguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sự điều chỉnh theo pháp luật. Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận: bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này. Trường hợp bên vay có thể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấp thuận nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúng thời gian đã gia hạn.
Phân loại hợp đồng tín dụng 1. Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn có các loại hợp đồng sau Hợp đồng cho vay ngắn hạn: là hợp đồng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là từ một năm trở xuống. Hợp đồng cho vay này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời gian ngắn (thường là dưới 1 năm). 11 Hợp đồng cho vay trung và dài hạn: là hợp đồng cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là trên một năm.
Người đi vay sử dụng hình thức này để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định, đầu tư sản xuất kinh doanh, phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng như nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, mua ô tô… 1. Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay Hợp đồng cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hợp đồng cho vay trong đó hình thức cho vay là có bảo đảm bằng tài sản trong đó nghĩa vụ trả nợ tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba. Việc cho vay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh). Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản.
Hợp đồng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của khách hàng vay hoặc của người thứ ba. Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồng duy nhất là hợp đồng tín dụng. Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo đảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhận cho vay.