chương 1 và các lý thuyết tại chương 2. Qua đó, đề tài thực hiện ước lượng mô hình đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến TNNL tại các NHTM 8 CP Việt Nam. Đề tài cũng sẽ đề cập về phương thức lựa chọn các biến nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu. Cuối cùng là trình bày về phương thức xử lý, lựa chọn các kết quả định lượng thu được từ ước lượng Bayes của 5 mô hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Nội dung của chương chủ yếu liên quan đến việc nhận xét, đánh giá thực trạng TNNL của các NHTM CP Việt Nam gian đoạn gần đây. Bên cạnh đó là phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến TNNL của các NHTM CP Việt Nam thông qua kết quả của ước lượng mô hình định lượng, cũng như nhận xét về kết quả nghiên cứu đối với các nghiên cứu trước đây. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Dựa trên các kết quả phân tích thu được từ chương 4, chương này sẽ hệ thống hóa lại toàn bộ kết quả của nghiên cứu và đưa ra các khuyến nghị đối với từng đối tượng để góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng của TNNL tại các NHTM CP Việt Nam cũng như trình bày những tồn tại của nghiên cứu và hướng các nghiên cứu tiếp theo. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP NGOÀI LÃI 2.
Khái niệm, đo lường thành phần và vai trò của TNNL 2. Khái niệm Mục tiêu cuối cùng của bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trên thị trường đều hướng đến kết quả kinh doanh (đặc biệt quan tâm đến chỉ số doanh thu và lợi nhuận) và NHTM cũng không phải ngoại lệ. Do vậy, cơ cấu hình thành nên doanh thu trong hoạt động kinh doanh cũng được các nhà quản trị ngân hàng hết sức quan tâm. Nếu xét về yếu tố nguồn thu của ngân hàng, thì tổng doanh thu của ngân hàng thường được cấu thành từ thu nhập lãi thuần và TNNL.
Thu nhập lãi thuần: theo De Young và Rice (2004) thì thu nhập lãi thuần là nguồn doanh thu đến từ các hoạt động kinh doanh thuần tuý của ngân hàng thông qua hình thức huy động tiền gửi với lãi suất thấp và cho vay với lãi suất cao hơn. Thu nhập từ lãi chính là nguồn thu quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu của các ngân hàng theo Nguyễn Thị Liên Hoa và Nguyễn Thị Kim Oanh (2018). Bên cạnh đó, cũng theo De Young và Rice (2004) thì TNNL là các món thu nhập không trực tiếp đến từ các hoạt động cấp tín dụng, có thể bao gồm các phí dịch vụ trên tài khoản tiền gửi, thu nhập từ hoạt động sử dụng uy tín ngân hàng và phí dịch vụ khác. Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) cho rằng TNNL là các khoản thu nhập từ hoạt động cung cấp dịch vụ; kinh doanh ngoại hối, vàng bạc, đá quí; kinh doanh chứng khoán và các hoạt động dịch vụ khác.
Tóm lại, TNNL có thể được nhìn nhận là các khoản doanh thu có được từ hoạt động kinh doanh phi tín dụng của các NHTM. Đo lường TNNL TNNL thường được đo lường bằng hai cách thông qua số tuyệt đối và số tương đối. Dựa trên số tuyệt đối của TNNL sẽ đánh giá được giá trị, quy mô TNNL của mỗi ngân hàng : 10 TNNL = TNNL= Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ + Lãi/lỗ thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và vàng + Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán kinh doanh + Lãi/lỗ thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư + Thu nhập từ góp vốn, mua cổ phần. Dựa trên số tương đối thông thường sẽ có 2 cách thức đo lường: Thứ nhất, dùng TNNL chia cho tổng thu nhập của ngân hàng.
Theo Hoàng Ngọc Tiến và Võ Thị Hiền (2010) thì tỷ trọng này sẽ phần nào phản ánh được sự đóng góp của TNNL vào tổng nguồn thu của ngân hàng, dù vậy tỷ lệ này có hạn chế là sẽ không có mang lại cái nhìn chính xác về diễn biến xu hướng của TNNL khi một trong hai thu nhập từ lãi và TNNL có xu hướng tăng trưởng nghịch chiều. Thứ hai, theo nghiên cứu của De Young và Rice (2004) là sử dụng tỷ lệ TNNL trên tổng tài sản. Tỷ lệ này thể hiện trung bình 1 đồng giá trị tài sản bình quân của ngân hàng sẽ tạo ra bao nhiêu đồng TNNL trong kỳ mà không phụ thuộc vào quy mô của từng ngân hàng. Theo Nguyễn Minh Sáng và Nguyễn Thị Hạnh Hoa (2013) thì sử dụng các đo lường này sẽ phần nào có cái nhìn tổng quan hơn về xu hướng, vai trò, tỷ trọng của TNNL qua từng năm so với thu nhập từ lãi truyền thống của từng ngân hàng.
Đây cũng là phương pháp mà tác giả sử dụng để xác định và đo lường TNNL trong luận văn. Vai trò của TNNL Mặc dù so với với thu nhập lãi thì tỷ trọng TNNL tại các NHTM hiện nay chiếm khá thấp, nhưng rõ ràng với sự phát triển của công nghệ, thì tầm ảnh hưởng và lợi ích của TNNL ngày càng được khẳng định, do đó việc tăng tỷ trọng các nguồn thu bền vững của các NHTM trên thế giới và Việt Nam, giảm thiểu các nguồn thu mang tính rủi ro cao, cũng sẽ là xu thế và mục tiêu hàng đầu của các NHTM trong thời gian sắp tới. Có thể nhận thấy, việc đẩy mạnh, tăng cường nguồn thu từ phi tín dụng là phương án khả dĩ nhất để có thể thay đổi tỷ trọng doanh thu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tại các ngân hàng truyền thống, thu nhập phần lớn đến từ nghiệp vụ cấp tín dụng, doanh thu từ các dịch vụ khác chỉ chiếm một phần rất nhỏ.
Trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức, việc chỉ chú trọng đến 11 nguồn thu từ hoạt động cấp tín dụng sẽ chứa đựng rất nhiều rủi ro làm ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Do đó, việc các ngân hàng cần phải ưu tiên, chú trọng tăng trưởng thu nhập từ nguồn phi tín dụng sẽ phần nào giúp các ngân hàng cân đối hơn trong tỷ trọng thu nhập và an toàn trong hoạt động kinh doanh. TNNL là khoản thu nhập của ngân hàng được hình thành từ chênh lệch giữa các khoản thu do cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác ngoài hoạt động tín dụng, thực hiện hoạt động kinh doanh, đầu tư và chi phí bỏ ra để thực hiện các sản phẩm dịch vụ cũng như các hoạt động kinh doanh, đầu tư. Bên cạnh đó, tỷ trọng TNNL phần nào đánh giá được mức độ phát triển, sức cạnh tranh và đa dạng sản phẩm, dịch vụ, cũng như cho thấy hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Phần nào đó sẽ giúp cho các ngân hàng chia sẻ rủi ro, đa dạng hoá nguồn thu trong hoạt động kinh doanh. Việc các ngân hàng chú trọng vào phát triển TNNL như các dịch vụ thanh toán, sản phẩm thẻ, đầu tư, … sẽ giúp các ngân hàng tận dụng nguồn lực sẵn có từ cơ sở vật chất, cơ sở dữ liệu và bộ máy nhân sự của các ngân hàng, … từ đó, gia tăng thêm nguồn thu cho ngân hàng, giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận. Mở rộng các hoạt động ngoài lãi còn giúp ngân hàng phân tán và giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Ngoài ra, có thể thấy việc đa dạng hóa thu nhập từ việc gia tăng nguồn thu ngoài lãi sẽ giúp tổng doanh thu của các ngân hàng bền vững và ổn định hơn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Thật vậy, theo nghiên cứu của De Young và Rice (2004) trong một đề tài liên quan đến mối quan hệ giữa TNNL và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng tại Mỹ đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ TNNL có tác động tích cự đến lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các ngân hàng. Trước tình hình kinh tế thế giới, ảnh hưởng bởi chiến tranh, dịch bệnh, rủi ro tín dụng có thể ảnh hưởng lớn đến việc tăng trưởng tín dụng, cũng như yêu cầu thực hiện các quy định về an toàn vốn Basel, sẽ gây áp lực lên các nhà quản trị ngân hàng trong việc định hướng và dịch chuyển cơ cấu thu nhập trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt chú trọng đến nguồn TNNL, để giúp ngân hàng đảm bảo nguồn thu an toàn hơn. Thêm vào đó, trong bối cảnh phát triển kinh tế toàn cầu, các ngân hàng trong nước phần nào cũng sẽ có nhiều cơ hội trong việc hợp tác và tiếp 12 thu các dịch vụ chất lượng từ các tổ chức tài chính trên thế giới, từ đây sẽ là cơ hội để phát triển các nghiệp vụ trong kinh doanh phí dịch vụ theo Gischer và Juttner (2003). Do vậy, việc chú trọng đầu tư, chuyển hướng sang các hoạt động phi tín dụng là chìa khoá, là kim chỉ nam cho các ngân hàng tại Việt Nam để hướng đến việc thay đổi cơ cấu tổng doanh thu kinh doanh của các ngân hàng, góp phần quan trọng vào việc tăng trưởng thu nhập an toàn cho ngân hàng cũng như phát triển bền vững hoạt động tài chính trong giai đoạn mới.
Các lý thuyết có liên quan đến TNNL 2. Lý thuyết về nguồn lực 2. Khái niệm Quan điểm về nguồn lực là một trong những lý thuyết kinh tế nền tảng quan trọng, mà ở đó, phần lớn các doanh nghiệp nói chung, và ngân hàng nói riêng ứng dụng vào mô hình kinh doanh. Theo Wernerfelt (1984) cho rằng các khái niệm truyền thống của chiến lược được phân tích định vị nguồn lực (điểm mạnh và điểm yếu) của doanh nghiệp; trong khi, hầu hết các công cụ kinh tế chính thống có xu hướng điều khiển thị trường.
Bên cạnh đó, theo Wernerfelt (1984) nhận định nguồn lực và sản phẩm của doanh nghiệp như “hai mặt của một đồng xu”, và theo quan điểm dựa trên nguồn lực doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp sẽ phụ thuộc vào việc sở hữu nguồn lực khan hiếm của chính doanh nghiệp đó. Tác động của lý thuyết nguồn lực Tác động đến cạnh tranh trong ngân hàng Như đã đề cập, học thuyết nguồn lực quan niệm rằng nguồn lực của tổ chức chính là nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến lợi thế cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh, vì chính nguồn lực sẽ tạo nên chiến lực kinh doanh riêng cho từng doanh nghiệp, từ đó tạo ra các chiến lược riêng biệt và không dễ sao chép, tạo nên tính cạnh tranh cho từng tổ chức. Do vậy, điểm trọng yếu của thuyết nguồn lực chính là việc nguồn lực là yếu tố tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với từng tổ chức.