chương 1, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan, khảo sát các nghiên cứu đã thực hiện và công bố liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu mà đề tài này sẽ thực hiện. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC Nội dung chương này sẽ trình bày khái niệm nợ xấu, lý thuyết về quản trị rủi ro, các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu, khảo sát các nghiên cứu trước và đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài.1 Khái niệm nợ xấu (Non Performing Loans, NPLs): 1.1 Khái niệm: Theo IMF‟s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004: Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy các dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay thay thế”. Theo Phòng Thống kê – Liên Hiệp Quốc, 2002, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”.
Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày. Dựa trên hướng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Từ những khái niệm nêu trên, có thể nhận thấy sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới.
Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nếu xuất hiện một trong hai dấu hiệu: (i) quá hạn trả nợ gốc và lãi và (ii) khách hàng vay vốn bị TCTD coi là không có khả năng trả nợ. Nợ xấu có tác động trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng, gây ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế. Những tác động tiêu cực của nợ xấu đến bản thân các ngân hàng được liệt kê bên dưới củng cố thêm sự cần thiết phải phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTM: - Giảm khả năng thanh toán: Tình trạng mất khả năng thanh toán tạm thời có thể làm giảm uy tín của ngân hàng một cách nghiêm trọng, đánh mất lòng tin của người gửi tiền. Các khoản nợ xấu luôn chứa đựng khả năng không thu hồi được vốn (một phần hoặc toàn bộ) và đặt NHTM trước tình trạng mất vốn.
- Giảm lợi nhuận: Khi ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng, mất cân đối trong thu chi. Mặt khác, chi phí phát sinh nợ xấu là rất lớn, chi phí tăng cao ngoài dự kiến và những chi phí này làm giảm đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh. - Giảm hiệu quả sử dụng vốn: Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với việc một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ, ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác, giảm vòng quay vốn, giảm doanh số cho vay của ngân hàng, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, nợ xấu tác động trực tiếp đến khả năng tài chính của TCTD khi phân tích, đánh giá tình hình tài chính hoạt động của ngân hàng, gây bất lợi cho khả năng cạnh tranh và quá trình hội nhập, phát triển của ngân hàng.
- Giảm uy tín của ngân hàng: Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác nên khi tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 của ngân hàng càng thấp. Ngân hàng gặp vấn đề thiếu thanh khoản, làm mất lòng tin đối với người gởi tiền, gây áp lực cho việc thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng, gây áp lực nguồn vốn huy động để cho vay là rất nặng nề. Đối với NHTM cổ phần có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, với tỷ lệ nợ xấu cao sẽ ảnh hưởng đến giá trị tài sản của ngân hàng trên thị trường, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư. Điều đó làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của ngân hàng, giảm uy tín của hệ thống NHTM trong nước.2 Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của một số nƣớc trên thế giới: Các nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997 - 1998 đều thành lập công ty quản lý tài sản (AMC) để tập trung xử lý nợ, thu hồi và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng.
Các công ty đó là: KAMCO - Công ty quản lý tài sản Hàn Quốc, TAMC - Công ty quản lý tài sản Thái Lan, IBRA - Cơ quan Tái cấu trúc ngân hàng Indonesia, DANAHARTA - Tổ chức xử lý nợ quốc gia Malaysia. Các AMC đều có điểm chung là được Chính phủ tài trợ vốn và tổ chức tập trung. Chính phủ các nước này áp dụng hình thức mua sỉ tất cả các khoản cho vay có vấn đề và cơ cấu lại các khoản nợ xấu của ngân hàng. Mô hình AMC tập trung có tính hiệu quả cao do nhiều ngân hàng không đủ nguồn lực để tự xử lý các khoản nợ xấu khổng lồ của mình.
Các AMC tập trung được trao quyền hạn đặc biệt để cắt giảm các thủ tục pháp lý. Chẳng hạn, TAMC sử dụng quyền hạn của mình để buộc các con nợ phải ngồi đàm phán cho việc thanh toán các khoản nợ vay, DANAHARTA có quyền xử lý tất cả các khoản nợ xấu chuyển giao mà không cần xin phép chủ tài sản. IBRA tiếp nhận tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng theo chỉ định của Chính phủ trong chương trình hỗ trợ các ngân hàng vượt qua khủng hoảng. Riêng KAMCO không có nhiều đặc quyền do cơ sở pháp lý của Hàn Quốc đã tương đối hoàn thiện.
AMC mỗi nước có cách lựa chọn tài sản để xử lý theo cách riêng của mình: 1. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Hàn Quốc TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Những yếu kém trong cấu trúc của nền kinh tế Hàn Quốc là vốn dựa quá nhiều vào việc mở rộng thị trường và vay mượn, cộng với việc dòng vốn nước ngoài bị các nhà đầu tư nước ngoài rút ra trong cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 dẫn tới cuộc khủng hoảng tín dụng và sau đó là khủng hoảng tiền tệ tại quốc gia. KAMCO ưu tiên mua các khoản nợ ở mức giá chiết khấu cao, ưu tiên các khoản nợ mà có thể dễ dàng chuyển giao quyền thu nợ. Sau đó, KAMCO nhóm các khoản nợ xấu này lại để phát hành các chứng khoán có đảm bảo bằng tài sản dựa trên các khoản nợ xấu đã mua hoặc bán cho các nhà đầu tư thông qua đấu giá quốc tế cạnh tranh.
Bên cạnh đó, KAMCO cũng tịch thu tài sản thế chấp của các khoản nợ có đảm bảo để bán thu hồi lại tiền. Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như truy đòi lại chủ nợ ban đầu của khoản nợ xấu, bán khoản nợ cho các công ty quản lý tài sản, công ty tái cơ cấu doanh nghiệp để mua lại cổ phiếu của các công ty này và tiến hành tái cơ cấu lại hoạt động của công ty. Nhờ sử dụng đồng loạt các biện pháp xử lý nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu đã giảm từ 17,7% vào năm 1998 xuống còn 14,9%, 10,4%, 5,6%, và 3,9% vào các năm 1999, 2000, 2001 và 2002, Hàn Quốc đã thực hiện thành công việc giải quyết nợ xấu, tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu khu vực tài chính góp phần ổn định nền kinh tế. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Malaysia DANAHARTA là công ty quản lý tài sản của Malaysia, thuộc sở hữu nhà nước nhưng ít chịu áp lực phải xử lý tất cả các khoản nợ xấu của ngân hàng.
DANAHARTA phát hành trái phiếu không trả lãi (zero - coupon bonds) để đổi cho nợ xấu của các ngân hàng. Nợ xấu được định giá một cách độc lập: đối với các khoản nợ có khả năng được hoàn trả, DANAHARTA tái cấu trúc và giãn nợ. Đối với các khoản nợ không có khả năng được hoàn trả, doanh nghiệp vay nợ được thanh lý theo trình tự phá sản. Để tạo khuyến khích cho các ngân hàng trong việc xử lý nợ xấu, nếu giá trị thu hồi của khoản nợ lớn hơn chi phí mua lại nợ của DANAHARTA, thì các ngân TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hàng bán nợ được hưởng 80% giá trị chênh lệch.
Mức giá mua lại nợ bình quân của DANAHARTA là 30 - 50% mệnh giá. Tỷ lệ giá trị thu hồi nợ theo mục tiêu là 57%. Kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Trung Quốc Nếu nợ xấu ở Nhật Bản và Thái Lan là kết quả của những vụ sụp đổ thị trường tài chính và bong bóng tài sản, thì ở Trung Quốc nhân tố gây ra nợ xấu chính là cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung: khi hoạt động của các NHTMNN lớn, có nhiệm vụ cho vay theo chỉ định cho các công ty và dự án Nhà nước vốn làm ăn kém hiệu quả, thậm chí thua lỗ, không qua quy trình phân tích tín dụng chặt chẽ.