chương 1, trong chương này, nội dung quan trọng được đề cập là các nghiên cứu trên thế giới đã thực hiện về phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu hoặc các nghiên cứu tương tự về vấn đề rủi ro (như dự phòng rủi ro) của ngân hàng liên quan đến nợ xấu. Nợ xấu là một trong những rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt thường xuyên trong quá trình hoạt động. Do đó, trước khi khảo sát và trình bài các nghiên cứu đã được thực hiện và công bố, lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và một số khái niệm liên quan sẽ được tóm tắt sơ lược qua. Chương này được trình bày theo hai phần: i.
Lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng ii. Khảo sát các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến nợ xấu 2. Lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng Trong quá trình hoạt động kinh doanh, ngân hàng luôn luôn đối diện với rất nhiều rủi ro khác nhau; nợ xấu chỉ là một trong những rủi ro mà ngân hàng gặp phải. Về bản chất, nợ xấu là một dạng rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Về nguyên nhân, nợ xấu có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Nợ xấu có thể bắt nguồn từ khách hàng vay tiền như: tình hình kinh doanh kém hiệu quả, khả năng quản trị dòng tiền yếu, khách hàng cố tình chây ì trả nợ,. Nợ xấu cũng có thể phát sinh từ bản thân ngân hàng như: khả năng thẩm định hồ sơ cho vay kém, không quản lý mục đích sử dụng vốn của khách hàng, sự kém hiệu quả trong quá trình thẩm định và kiểm soát nguồn thu dòng tiền của khách hàng vay vốn, khả năng quản trị và quy trình kiểm soát kém hiệu quả, đạo đức nhân sự ngân hàng, .Một rủi ro nào đó xuất hiện trong quá trình hoạt động có thể dẫn đến hệ quả làm nợ xấu gia tăng. Do đó cần thiết phải khảo sát lý thuyết quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng để có cái nhìn tổng quan trước khi tiến hành giải quyết mục tiêu nghiên cứu liên quan đến nợ xấu.
6 Định nghĩa rủi ro: Cho đến hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro, tùy từng lĩnh vực kinh doanh và tùy từng trường phái khác nhau, khái niệm rủi ro được phát biểu theo nhiều cách khác nhau. Hiểu theo cách định tính, một sự kiện hoặc một hoạt động nào đó được gọi là có rủi ro (risk) khi nó có sự không chắc chắn (uncertainty) với một xác suất có thể ước đoán được hoặc có tình trạng bất ổn. Theo sách giáo khoa về lý thuyết quản trị rủi ro tài chính của Nguyễn Minh Kiều (2009) thì trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp, ngân hàng và các tổ chức tài chính đối diện với ba loại rủi ro cơ bản: (i) rủi ro tín dụng, (ii) rủi ro lãi suất và (iii) rủi ro tỷ giá. Bên cạnh ba loại rủi ro như Nguyễn Minh Kiều (2009) đã nêu, sách giáo khoa về quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng của Nguyễn Văn Tiến (2010) phát biểu rằng ngân hàng hiện đại còn đối mặt thêm các loại rủi ro sau: (iv) rủi ro thanh khoản, (v) rủi ro hoạt động ngoại bảng, (vi) rủi ro công nghệ và hoạt động, (vii) rủi ro quốc gia và những rủi ro khác.
Sau đây đề tài nghiên cứu sẽ trình bày một số biện pháp quản trị rủi ro chính trong hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện đại. Quản trị rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), rủi ro tín dụng (credit risk) xảy ra khi khách hàng vay vốn hoặc nhận khoản tín dụng (người có nghĩa vụ trả nợ) mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thanh toán. Đối với doanh nghiệp phi tài chính, rủi ro tín dụng phát sinh trong chính sách bán chịu của doanh nghiệp, nó xảy ra khi khách hàng mua chịu mất khả năng trả nợ. Đối với ngân hàng và các tổ chức tài chính, rủi ro tín dụng phát sinh khi khách hàng vay tiền mất khả năng chi trả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ (gốc và lãi) đến hạn thanh toán.
Khi quyết định cho vay, mặc dù có thẩm định kỹ đến đâu hoặc có đầy đủ tài sản thế chấp, các ngân hàng đều chưa biết chắc có thể thu hồi được khoản tín dụng đó hay không vì nó chưa đến hạn thanh toán. Do đó có thể nói tất cả các khoản cho vay của ngân hàng đều chứa đựng rủi ro tín dụng. Theo đó, nợ xấu là một dạng rủi ro tín dụng của ngân hàng vì nợ xấu là khoản nợ quá hạn thanh toán từ 90 ngày trở lên (kể cả một phần hoặc toàn bộ khoản nợ gốc và lãi) và khả năng trả nợ của khách hàng là đáng nghi ngờ hoặc không còn khả năng thanh toán. 7 Trong quá trình hoạt động của mình, giữa doanh nghiệp với ngân hàng và giữa doanh nghiệp này với doanh nghiệp kia xuất hiện mối quan hệ tín dụng chằng chịt lẫn nhau.
Do đó khi rủi ro tín dụng xuất hiện ở một khâu nào đó trong mối quan hệ ấy đều có khả năng ảnh hưởng dây chuyền đến tất cả các đối tượng có mặt trong mối quan hệ tín dụng. Như đã trình bày ở trên, rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng vay vốn mất khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thanh toán. Xét về nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng thì loại rủi ro này có thể phát sinh một cách khách quan hoặc chủ quan và đến từ cả hai phía: bên cấp tín dụng (ngân hàng) và bên nhận tín dụng (bên vay vốn hay khách hàng). Vì vậy việc quản trị rủi ro tín dụng là rất cần thiết kể cả ở phía ngân hàng lẫn phía doanh nghiệp đóng vai trò là khách hàng nhận khoản tín dụng.
Sau đây là một số biện pháp quản trị rủi ro tín dụng mà ngân hàng thường áp dụng để ngăn ngừa rủi ro xảy ra. Tư vấn chính sách quản lý rủi ro tín dụng cho khách hàng vay vốn như: chính sách bán chịu, kỹ năng quản trị khoản phải thu. Cung cấp công cụ phòng ngừa rủi ro tín dụng cho khách hàng vay vốn để qua đó cũng hạn chế được rủi ro tín dụng cho chính ngân hàng như: công cụ bao thanh toán trong nước và xuất khẩu. Xây dựng chính sách tín dụng chặt chẽ và thống nhất trong toàn bộ hệ thống của ngân hàng.
Chính sách này là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, quy định và công cụ do hội đồng tín dụng hoặc hội đồng quản trị hoặc đại hội đồng cổ đông đề ra, thông qua và được thực thi thống nhất khi cấp tín dụng nhằm quản lý tốt dư nợ và rủi ro tín dụng. Xây dựng quy trình phân tích và thẩm định tín dụng một cách chặt chẽ: Phân tích tín dụng nhằm đánh giá và dự báo sức khỏe của khách hàng vay vốn như: tình hình thanh khoản, hiệu quả sử dụng nợ, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền kỳ vọng và tính khả thi của phương án sản xuất kinh doanh sắp tới. 8 Thẩm định tín dụng để đánh giá độ tin cậy của phương án sản xuất kinh doanh trước khi duyệt cấp tín dụng cho khách hàng. Thẩm định tín dụng chú trọng vào: xem xét dòng tiền kỳ vọng, đánh giá chi phí sử dụng vốn, thẩm định hiệu quả tài chính: hiện giá ròng của dòng tiền (NPV), suất sinh lợi nội bộ (IRR), thời gian hoàn vốn (PP, DPP).
Sử dụng công cụ xếp hạng tín dụng: Trước khi cấp tín dụng, ngân hàng nên căn cứ vào mức xếp hạng tín dụng để quyết định hạn mức và lãi suất cấp tín dụng cho khách hàng. Ở Mỹ có các tổ chức xếp hạn tín dụng uy tín như: S&P, Moody, Fitch. Ở Việt Nam, các ngân hàng thường tự xếp hạn tín dụng cho khách hàng vay vốn hoặc tham khảo Trung Tâm Thông Tin Tín Dụng của NHNN để đánh giá, quyết định cấp hạn mức và lãi suất cho vay. Chấm điểm tín dụng: Ngân hàng dựa vào dữ liệu thống kê để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng từ đó chấm điểm tín dụng cho khách hàng đó.
Căn cứ vào điểm tín dụng, ngân hàng sẽ quyết định hạn mức, thời gian và lãi suất cho vay đối với khách hàng. Ở những nước có thị trường tài chính phát triển mạnh, các ngân hàng hoặc cơ quan quản lý tín dụng đều đã xây dựng hệ thống chấm điểm tín dụng để phục vụ quá trình hoạt động của ngân hàng. Hệ thống chấm điểm tín dụng khách hàng có thể căn cứ vào rất nhiều yếu tố khác nhau như: lịch sử thanh toán nợ, giá trị dư nợ, thời hạn tín dụng, lịch sử quan hệ tín dụng, loại hình tín dụng, tình trạng việc làm, tuổi tác,. Tuy nhiên tại Việt Nam, hệ thống chấm điểm tín dụng chưa được quan tâm xây dựng một cách bài bản, thống nhất và mỗi ngân hàng đều có tiêu chí chấm điểm khác nhau.
Bảo đảm tín dụng: Bảo đảm tín dụng là hình thức phòng ngừa rủi ro được áp dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng. Nó tạo tiền đề về mặt kinh tế và pháp lý để ngân hàng có thể thu hồi được các khoản nợ khi xảy ra rủi ro tín dụng. Một số hình thức đảm bảo tín dụng như: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh. Bảo đảm tín dụng chỉ phòng ngừa chứ chưa loại bỏ được rủi ro tín dụng.
Lý do: khi xảy ra rủi ro tín dụng, ngân hàng sẽ gặp nhiều khó khăn 9 tại tòa án, thi hành án và khó khăn khi thanh lý tài sản, chưa kể trường hợp giá trị thanh lý không đủ bù khoản nợ. Tại Việt Nam, các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn khi muốn thanh lý tài sản đảm bảo là bất động sản vì vướng thủ tục hành chính ở tòa án, thi hành án và tình trạng bất động sản rớt giá thê thảm trong thời gian vừa qua. Mua bảo hiểm tín dụng: Trong trường hợp cần thiết, ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm tín dụng trước khi quyết định cấp tín dụng. Có bảo hiểm tín dụng, nếu khách hàng mất khả năng thanh toán thì công ty bảo hiểm sẽ thay mặt khách hàng để trả nợ cho ngân hàng.
Lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng: Ngân hàng phải chủ động trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp cho các khoản nợ không thu hồi được. Theo đó ngân hàng sẽ trích lập quỹ này từ thu nhập của ngân hàng trước khi nộp thuế (và trước khi chia cổ tức cho cổ đông).