Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của các NHTM. Chương 3: Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – CN Cần Thơ Chương 4: Thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ Chương 5: Một số giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Cần Thơ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng John J.Hamton (2009), RRTD là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ và là rủi ro quan trọng nhất trong HĐKD ngân hàng. RRTD chia thành: rủi ro vỡ nợ; rủi ro giảm uy tín; rủi ro nguy cơ (là giá trị tương lai của khoản tiền có thể thua lỗ vào thời điểm vỡ nợ chưa biết, thua lỗ do vỡ nợ ít hơn lượng tiền phải trả nhờ đảm bảo hay thế chấp của bên thứ ba); rủi ro đối tác (là rủi ro xuất phát từ phái sinh, có thể chuyển đổi từ đối tác này sang đối tác khác).
Delloite (2009), RRTD là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là dòng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian. Basel Committee on Banking Supervision (2004), RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã thỏa thuận. Như vậy, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ gốc và lãi hoặc hoàn trả không đúng hạn. Phân loại rủi ro tín dụng 2.
Căn cứ vào nguyên nhân Rủi ro đạo đức - là rủi ro vì lợi ích cá nhân mà bên cho vay đã bỏ qua các thông tin không tin cậy về năng lực trả nợ của bên đi vay hoặc bên đi vay đã cố tình không tuân thủ các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có liên quan đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay. Rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch - là rủi ro do bên cho vay tin tưởng vào khả năng tài chính của người vay mà quyết định cho vay. Trong khi người đi vay để vay được vốn đã cung cấp thông tin không trung thực cho bên cho vay. Căn cứ vào mức độ tổn thất Rủi ro đọng vốn - là rủi ro xảy ra khi ngân hàng chưa thu hồi vốn vay khi đến hạn, ảnh hưởng đến kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng và khả năng thanh toán cho khách hàng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Rủi ro mất vốn - là rủi ro khách hàng vay không có khả năng hoặc không có thiện chí trả nợ gốc hoặc lãi vay cho ngân hàng. Việc thu hồi nợ chỉ phụ thuộc vào xử lý tài sản bảo đảm. Căn cứ phạm vi của rủi ro tín dụng Rủi ro cá biệt - là rủi ro xảy ra đối với các khoản vay nhỏ lẻ hoặc một nhóm khách hàng cụ thể. Đa dạng hóa hoạt động tín dụng là biện pháp để giảm thiểu rủi ro cá biệt, tăng hiệu quả cho ngân hàng.
Rủi ro hệ thống - là rủi ro xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng như: thay đổi chính sách tiền tệ, chính sách thuế, chính sách xuất nhập khẩu; tỉ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp, GDP, chỉ số chứng khoán, chỉ số giá tiêu dùng; luật pháp và môi trường đầu tư,. Để hạn chế rủi ro này, thay vì đa dạng hóa hoạt động tín dụng, ngân hàng cần phải thực hiện tốt công tác dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, tác động của lạm phát, thất nghiệp, chính sách của Chính phủ và chủ động đưa ra các giải pháp quản lý rủi ro phù hợp. Căn cứ vào giai đoạn phát sinh Rủi ro trước khi cho vay – xảy ra tại khâu thẩm định hồ sơ vay vốn. Rủi ro phát sinh khi thông tin thẩm định bị sai lệch dẫn đến ngân hàng sai lầm trong việc ra quyết định cho vay.
Rủi ro trong khi cho vay – xảy ra trong quá trình cấp tín dụng. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) giải ngân không đúng tiến độ sử dụng vốn thực tế của khách hàng (ii) không cập nhật thông tin khách hàng kịp thời và (iii) không dự báo được rủi ro tiềm tàng. Khách hàng cố tình không trả nợ vay hoặc cung cấp thông tin không trung thực về khả năng trả nợ. Rủi ro sau khi cho vay – là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không nắm được tình hình sử dụng vốn vay của khách hàng, hoặc sự biến động tình hình tài chính bất thường của khách hàng.
Căn cứ vào quy mô ảnh hưởng của rủi ro tín dụng Rủi ro khoản vay - là rủi ro của mỗi khoản vay, mức độ rủi ro khoản vay được đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hưởng được giới hạn do quy mô khoản vay. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Rủi ro danh mục - là rủi ro được đánh giá đối với danh mục cho vay (đối tượng khách hàng, đối tượng cho vay hay tính chất khoản vay…). Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh hưởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng 2.
Yếu tố khách quan Môi trường chính trị và pháp lý Môi trường chính trị, pháp lý ổn định cùng với các quy định phù hợp giúp hoạt động của NHTM được đảm bảo. Ngược lại, quy định không phù hợp sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn trong hoạt động và kìm hãm sự phát triển của NHTM. Môi trường kinh tế Sự tăng trưởng tín dụng luôn cần đi kèm với một nền kinh tế phát triển. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì SXKD của khách hàng bị thu hẹp và kém hiệu quả, thua lỗ và dẫn đến phá sản.
Nếu ngân hàng tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì RRTD sẽ rất cao. Khách hàng vay vốn Năng lực quản trị, điều hành của khách hàng quyết định hiệu quả sử dụng vốn và khả năng trả nợ của khách hàng. Khách hàng cung cấp thông tin không chính xác; mở rộng đầu tư quá mức; không có khả năng tính toán rủi ro và lợi nhuận; không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh. Ngoài ra, cũng có trường hợp khách hàng kinh doanh có hiệu quả nhưng lại không muốn trả nợ cho ngân hàng.
Năng lực tài chính yếu kém, thông tin thiếu minh bạch làm tăng RRTD của ngân hàng. Khách hàng có tiềm lực tài chính mạnh, uy tín, HĐKD hiệu quả thì xác suất xảy ra RRTD rất thấp. Sổ sách kế toán mà khách hàng cung cấp chỉ mang tính chất hình thức, dẫn đến việc thẩm định và ra quyết định cho vay kém hiệu quả. Để giảm thiểu rủi ro bất cân xứng thông tin, ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp như là nguồn thu thứ hai để phòng chống RRTD.
Các yếu tố chủ quan Trình độ yếu kém và vi phạm đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng như không tính toán đúng tính khả thi của phương án kinh doanh, không nắm rõ đặc điểm của ngành, hoặc do cán bộ tín dụng cố ý cho vay dù tính khả thi của phương án kinh doanh thấp. Cán bộ tín dụng đánh giá chưa đúng mức về tình trạng của khoản vay, chủ quan tin tưởng vào khách hàng thân thiết, coi nhẹ khâu kiểm tra tình hình tài chính của khách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cán bộ ngân hàng cấu kết với khách hàng làm cung cấp hồ sơ vay không trung thực, hoặc nâng giá trị tài sản thế chấp cao hơn thực tế để vay được số tiền lớn hơn so với quy định của ngân hàng. Các ngân hàng thường chỉ tập trung vào khâu thẩm định trước khi phê duyệt khoản vay, xem nhẹ việc kiểm tra giám sát sau khi cấp tín dụng.
Giám sát và quản lý sau khi cho vay đảm bảo khách hàng tuân thủ các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và có biện pháp kịp thời khi rủi ro xảy ra. Kiểm tra nội bộ giúp phát hiện nhanh chóng, kịp thời khi rủi ro vừa mới xảy ra do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Tuy nhiên, tại một số ngân hàng chất lượng kiểm tra của bộ phận này còn mang tính hình thức, thiếu sự sâu sát với tình hình thực tế của các khoản vay. Mô hình quản lý RRTD được thiết kế thiếu chuyên nghiệp, làm phát sinh RRTD.
Tập trung cho vay vào một nhóm khách hàng, nhóm ngành nghề hoặc vùng, lĩnh vực có thể dẫn đến RRTD. Không thực hiện việc đánh giá hoạt động tín dụng thường xuyên, chưa có biện pháp kịp thời để xử lý các tình huống phát sinh. Tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng 2. Các tiêu chí trực tiếp đánh giá RRTD Nợ quá hạn Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn thanh toán mà người vay không trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay như đã cam kết.
Đặc thù hoạt động tín dụng của ngân hàng thì vấn đề nợ quá hạn phát sinh là điều không tránh khỏi, nhưng nếu vượt quá tỷ lệ cho phép sẽ dẫn đến mất khả năng thanh toán của ngân hàng Số dư nợ quá hạn Tỉ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dư nợ Tỷ lệ nợ quá hạn càng lớn thì phản ánh chất lượng nợ tại ngân hàng càng thấp và ngược lại. Nợ xấu Nợ xấu phản ánh chất lượng tín dụng của NHTM thông qua thời hạn quá hạn và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay. Tại Việt Nam, nợ xấu là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên theo quy định tại Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.