Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thu nhập lãi thuần Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ thu nhập lãi thuần của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Chương 5: Kết luận và hàm ý LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2. KHUNG LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI TỶ LỆ THU NHẬP LÃI THUẦN 2. Tổng quan về hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Cho tới thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về ngân hàng thương mại, ở mỗi quốc giá có cách định nghĩa riêng về ngân hàng thương mại. Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính (Bách khoa toàn thư) Ở Pháp: Theo Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Ở Ấn Độ: Ngân hàng thương mại là cơ sở nhận các khoản ký thác cho vay hay tài trợ hoặc đầu tư. Ở Thổ Nhĩ Kỳ: Ngân hàng thương mại là hội trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhận tiền ký thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, hôi phiếu, chiết khấu thanh toán và những hình thức vay mượn khác. Ở Việt Nam: Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước. Theo Luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 2010 , ngân hàng thương mại được định nghĩa là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Luật các tổ chức tín dụng cũng định nghĩa rõ về hoạt động ngân hàng là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Từ những nhận định trên có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ liên quan đến tiền tệ của xã hội. Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng, phạm vi hoạt động mạnh nhất, có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ cũng như nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại cung ứng các sản phẩm, gói dịch vụ nhằm thu hút các lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để tập trung nguồn vốn, sau đó thực hiện cung ứng nguồn vốn tới các thành phần kinh kế trong xã hội đang cần sử dụng vốn để bổ sung vào sản xuất, hoạt động kinh doanh, tiêu dùng… nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế xã hội.2 Phân loại ngân hàng thương mại Hiện nay để phân loại các ngân hàng thương mại Việt Nam người ta thường phân loại theo hai cách là phân loại theo hình thức sở hữu và phân loại theo chiến lược kinh doanh. Phân loại theo hình thức sở hữu Ngân hàng thương mại nhà nước: là ngân hàng thương mại được thành lập bằng 100% từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, có hoạt động rộng khắp cả nước, được phép kinh doanh tiền tệ, cấp tín dụng cho các thành phần kinh tế xã hội và giữ vai trò chủ đạo trong việc kinh doanh tiền tệ. Danh sách các ngân hàng thương mại nhà nước tính tới thời điểm 30/06/2017 gồm: - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development - Agribank), vốn điều lệ 30.259 tỷ đồng, với 942 chi nhánh, sở giao dịch. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu ( Global Petro Sole Member Limited Commercial Bank) vốn điều lệ 3.018 tỷ đồng, với 13 chi nhánh, sở giao dịch.
- Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương ( Ocean Commercial One Member Limited Liability Bank) vốn điều lệ 4000,1 tỷ đồng, với 21 chi nhánh, sở giao dịch. - Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng ( Construction Commercial One Member Limited Liability Bank), vốn điều lệ 3000 tỷ đồng, với 16 chi nhánh, sở giao dịch. Ngân hàng thương mại cổ phần: là ngân hàng thương mại được thành lập dưới sự góp vốn của hai hay nhiều cá nhân hoặc công ty theo cổ phần, trong đó mỗi cá nhân hay công ty chỉ được sở hữu một số cổ phần theo quy định của ngân hàng nhà nước Việt Nam. Theo danh sách các ngân hàng thương mại cổ phần do Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam ban hành gồm có 31 ngân hàng.
Một số ngân hàng thương mai cổ phần có ưu thế về quy mô, thương hiệu trên thị trường hiện nay như: Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietnam Joint Stock Commercial Bank of Industry and Trade); Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam); Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam - VCB); Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Viet Nam Technological and Commercial Joint Stock Bank - TECHCOMBANK); Ngân hàng TMCP Á Châu (Asia Commercial Joint Stock Bank - ACB)…… Ngân hàng thương mại liên doanh: là ngân hàng thương mại được thành lập bằng vốn góp của bên ngân hàng Việt Nam với bên ngân hàng nước ngoài, có trụ sở tại Việt Nam và hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam. Các ngân hàng thương mại liên doanh tại Việt Nam như: Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn Indovina ((Indovina Bank Limited - IVB), Ngân hàng liên doanh Việt – Nga (Vietnam-Russia Joint Venture Bank - VRB) ( Ngân hàng nhà nước Việt Nam). Ngân hàng 100% vốn nước ngoài và chi nhánh, văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Đây là một bộ phận của ngân hàng nước ngoài, hoạt động theo pháp luật Việt Nam.
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 ngân hàng nước ngoài, không có tư cách pháp nhân, được ngân hàng nước ngoài bảo đảm chịu trách nhiệm về mõi nghĩa vụ, cam kết chi nhánh tại Việt Nam. Phân loại theo chiến lược kinh doanh Ngân hàng bán buôn: là loại ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. Ngân hàng bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.
Các ngân hàng của Việt Nam đều là ngân hàng vừa bán buôn, vừa bán lẻ.3 Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệp thương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Ngân hàng thương mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại. So với các doanh nghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hoá của ngân hàng thương mại là một loại hàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn.
Giá cả của loại hàng hoá này biểu hiện ra bên ngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, nó chịu tác động bởi quan hệ cung – cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưa vốn vay vào sản xuất kinh doanh. Vì vậy, lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngân hàng sẽ là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với thu nhập từ lãi cho vay. Để có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một giá mua hợp lý cũng như đa dạng các hình thức huy động. Nhìn chung, các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại thể hiện qua ba nghiệp vụ cơ bản sau: Nghiệp vụ huy động nguồn vốn: là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với ngân hàng cũng như đối với xã hội.
Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế làm nguồn vốn để cho vay đối với nền kinh tế. Nguồn vốn của một ngân hàng thương mại bao gồm: vốn chủ sở hữu, tiền gửi của khách hàng, tiền vay, vốn uỷ thác và một số nguồn vốn nợ từ bên ngoài khác. Vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn nhưng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại, là cơ sở để hình thành nên một ngân hàng và luôn đóng vai trò là tấm đệm, chống đỡ cho mọi khó khăn, rủi ro mà ngân hàng phải chịu đựng trong quá trình hoạt động kinh doanh. Đặc điểm của nguồn vốn chủ sở hữu có tính ổn định thường xuyên nên các ngân hàng có thể sử dụng vào các mục đích khác như đầu tư vào cơ sở vật chất để phục vụ cho hoạt động của ngân hàng, có thể sử dụng vào mục đích cho vay hay góp vốn liên doanh.
Bên cạnh đó, vốn chủ sở hữu được xem như tài sản đảm bảo gây lòng tin, nâng cao tính uy tín cho các khách hàng khi ngân hàng hoạt động không hiệu quả. Khi xem xét đánh giá quy mô của một ngân hàng thì vốn chủ sở hữu cũng được xem là tiên chí tiên quyết thực hiện. Phần chiểm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nguồn vốn là nguồn vốn huy động, chiếm tỷ trọng khoảng 85% - 90% trong tổng nguồn vốn, là nguồn vốn chiến lược trong các hoạt động.