chương 1, tác giả trình bày lý do lựa chọn đề tài và tính cấp thiết của đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ của ngân hàng ở Việt Nam bằng thang đo Z-score”. Đặt ra ba mục tiêu cụ thể: i) Xác định các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng ở Việt Nam bằng thang đo Z-score; ii) Đánh giá mức độ ảnh hưởng Trang 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của các yếu tố nội tại đến rủi ro vỡ nợ ngân hàng; iii) Thông qua kết quả có được từ mô hình nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất, kiến nghị những giải pháp phù hợp, nhằm ngăn chặn, cảnh báo sớm nguy cơ xảy ra rủi ro vỡ nợ ngân hàng. Từ đó xác định các câu hỏi nghiên cứu, định hướng phương pháp nghiên cứu để đạt được kết quả nhằm trả lời cho mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu. Ngoài ra, chương này cũng tóm tắt bố cục luận văn.
Trang 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm về rủi ro Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Tuy nhiên, không phải bất cứ sự không chắc chắn nào cũng là rủi ro. Chỉ có những tình trạng không chắc chắn nào có thể ước đoán được xác suất xảy ra mới xem là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không thể ước đoán được xác suất xảy ra được xem là sự bất trắc, chứ không phải là rủi ro.
Rủi ro đối với ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định (Phan Thị Cúc, 2009) hay rủi ro được định nghĩa rộng là những biến cố có thể dẫn tới thua lỗ hoặc thiệt hại về lợi nhuận (Bessis, 2011).2 Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng và biện pháp đo lường rủi ro Theo Bessis (2011), rủi ro trong hoạt động ngân hàng được phân loại theo nguồn gốc thua lỗ, biến động thị trường hay vỡ nợ. Theo Phạm Tiến Đạt (2013), rủi ro tiềm tàng trong các NHTM gồm hai loại: các rủi ro có nguồn gốc nội tại và các rủi ro về mặt hệ thống do tác động của thị trường ngân hàng. Hầu hết các lý thuyết hoặc nghiên cứu về quản trị rủi ro ngân hàng đều đề cập đến các loại rủi ro chính trong hoạt động ngân hàng: - Rủi ro có nguồn gốc nội tại: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro vỡ nợ. - Rủi ro khách quan bên ngoài như: rủi ro lạm phát, rủi ro tỷ giá hối đoái, rủi ro chính trị, rủi ro phạm tội.
Trang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu này chỉ tập trung phân tích, đánh giá các rủi ro nội tại bên trong ngân hàng.1 Rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay nợ mất khả năng trả nợ. Rủi ro tín dụng thể hiện ở khả năng hay xác suất khách hàng hoàn thành giao dịch tín dụng và ngân hàng thu hồi được vốn gốc và lãi. Một số tài sản của ngân hàng (thể hiện ở các khoản cho vay) bị giảm giá trị hay không thể thu hồi được là biểu hiện của rủi ro tín dụng. Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng so với tổng giá trị tài sản là rất nhỏ nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục cho vay có vấn đề sẽ có thể đẩy một ngân hàng tới nguy cơ phá sản (Rose, 1998).
Rủi ro tín dụng là rủi ro quan trọng nhất trong ngân hàng. Đó là rủi ro đối tác sẽ vi phạm nghĩa vụ trả nợ (Bessis, 2011). Theo văn bản số 22/VBHN-NHNN ngày 04/06/2014 các ngân hàng phân loại nợ thành năm nhóm chính: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) , Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Trong đó các khoản vay thuộc nhóm 3 trở lên sẽ được xem là nợ xấu và khả năng xảy ra rủi ro tín dụng là rất cao.
Các ngân hàng phải chuẩn bị cho các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Điều này sẽ làm giảm thu nhập, lợi nhuận của ngân hàng, thậm chí còn âm vốn chủ sở hữu dẫn đến nguy cơ phá sản. Đo lường rủi ro tín dụng của ngân hàng có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ nợ xấu: giá trị các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay - Tỷ lệ dự phòng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay (LLR) 2.2 Rủi ro thanh khoản Theo Bessis (2011) cho rằng rủi ro thanh toán là rủi ro chi phí cấp vốn tăng và nghiêm trọng nhất là khi không thể huy động được vốn. Trang 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rủi ro thanh khoản là rủi ro khi ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền, hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Rủi ro thanh toán khiến ngân hàng phải huy động vốn lãi suất cao hơn lãi suất cho vay dẫn đến làm suy giảm lợi nhuận. tình trạng thiếu hụt thanh khoản với mức độ lớn trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến phá sản ngân hàng (Phan Thị Cúc, 2009) Phương pháp đo lường rủi ro thanh khoản là: đo độ lệch thanh khoản, trạng thái thanh khoản ròng và phân tích hoạt động liên ngân hàng (Phạm Thị Hoàng Anh, 2015). Đo lường rủi ro thanh khoản có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ giữa dư nợ cho vay ròng trên tổng tiền gửi (LDR) - Tỷ lệ giữa tiền mặt và số dư tiền gửi tại các ngân hàng khác so với tổng tài sản. - Tỷ lệ giữa khoản mục tiền mặt và chứng khoán chính phủ so với tổng tài sản.3 Rủi ro lãi suất Rose (1998) cho rằng sự thay đổi lãi suất thị trường cũng có thể gây ra tác động mạnh tới thu nhập và chi phí hoạt động của ngân hàng.
Rủi ro lãi suất xảy ra khi biến động lãi suất thị trường gây tổn thất cho ngân hàng. Rủi ro này xuất hiện trong trường hợp lãi suất của thị trường tăng lên, khi đó, các khoản cho vay và đầu tư của ngân hàng sẽ sụt giảm giá trị và ngân hàng sẽ gặp tổn thất (Phan Thị Cúc, 2009; Phạm Tiến Đạt, 2013). Một trường hợp khác của rủi ro lãi suất thị trường giảm, làm cho ngân hàng phải chấp nhận đầu tư và cho vay các khoản tiền huy động với lãi suất cao vào các tài sản với mức sinh lời thấp (Phạm Tiến Đạt, 2013). Các biện pháp đo lường rủi ro lãi suất: định giá lại tài sản nhạy cảm lãi suất, độ nhạy của vốn chủ sở hữu, phân tích tình huống và kiểm tra sức chịu đựng, thu nhập lãi (NII) và giá trị kinh tế vốn chủ sỡ hữu (Phạm Đỗ Nhật Vinh, 2010).
Đo lường rủi ro lãi suất có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau: - Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nguồn vốn nhạy cảm lãi suất. Trang 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tỷ lệ giữa tiền gửi không được bảo hiểm trên tổng tiền gửi. - Tỷ lệ thu nhập lãi thuần trên tổng tài sản bình quân (NIR) 2.4 Rủi ro vỡ nợ (insolvency/default risk) Theo Anginer (2016), Rủi ro vỡ nợ là là một biến cố không chắc chắn chỉ khả năng của một tổ chức trong việc thực hiện nghĩa vụ nợ, là khả năng tổ chức không thể thanh toán được hoặc thực hiện rất khó khăn nghĩa vụ nợ khi đến hạn. Rủi ro vỡ nợ có thể thành hiện thực khi tình trạng khánh kiệt tài chính kéo dài.
Hiện tượng khánh kiệt tài chính là khi ngân hàng không đáp ứng được các hứa hẹn với chủ nợ hay đáp ứng một cách đầy khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ cho các chủ nợ khi đến hạn. Đôi khi kiệt quệ tài chính đưa ngân hàng đến bờ vực phá sản, đôi khi chỉ có nghĩa là đang gặp khó khăn, rắc rối về tài chính. Các chủ nợ ở đây bao gồm: người gửi tiền, các ngân hàng đã cho vay, ngân hàng nhà nước đã cho ngân hàng vay. Hiện tượng khánh kiệt tài chính cũng được xem là rủi ro vỡ nợ cho bất cứ doanh nghiệp nào, kể cả ngân hàng.
Ngoài ra, theo Bessis (2011), rủi ro vỡ nợ là rủi ro vốn hiện có không thể chống đỡ với những thua lỗ do tất cả các loại rủi ro. Rủi ro vỡ nợ bắt nguồn từ việc vỡ nợ hay không thể tìm đủ vốn để đáp ứng nghĩa vụ trả nợ. Tương tự, Phạm Tiến Đạt (2013) cũng cho rằng rủi ro vỡ nợ là rủi ro mà một ngân hàng không đủ vốn chủ sở hữu để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản so với giá trị nợ. Rủi ro này xảy ra do hậu quả của các loại rủi ro khác, thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô, do sự suy thoái của nền kinh tế, tỷ trọng huy động tiền gửi nhỏ, chủ yếu dựa vào các khoản vay, sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay của các khách hàng (chủ yếu để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn).
Rose (1998) cho rằng các ngân hàng phải quan tâm trực tiếp tới rủi ro đối với khả năng tồn tại lâu dài của mình, đó là rủi ro vỡ nợ. Nếu quy mô nợ khó đòi quá lớn hay giá trị thị trường của phần lớn khoản mục đầu tư chứng khoán giảm, vốn chủ sở hữu có thể giảm sút đáng kể. Nếu các nhà đầu tư và người gửi tiền nhận biết được tín hiệu này và rút Trang 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiền, ngân hàng có thể không còn cách lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố mất thanh khoản và đóng cửa. Giá và thu nhập trên mỗi cổ phiếu của ngân hàng là chỉ báo cho thấy dấu hiệu rủi ro vỡ nợ của một ngân hàng.
Khi một ngân hàng có nguy cơ phá sản, giá trị thị trường của cổ phiếu sẽ sụt giảm. Nếu các ngân hàng chưa niêm yết, rủi ro vỡ nợ của ngân hàng có thể được đo lường thông qua một số yếu tố sau: - Tỷ số giữa vốn chủ sở hữu so với tổng tài sản của ngân hàng.