Luận Văn Thạc Sĩ: Phân Tích Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Nợ Xấu Của Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp.

Chuyên ngành

Tài chính Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

113
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. Tổng quan về nợ xấu của Ngân hàng thương mại

1.2. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu

1.2.1. Nguyên nhân chủ quan

1.2.2. Nguyên nhân khách quan

1.3. Tác động tiêu cực của nợ xấu

1.3.1. Đối với hoạt động Ngân hàng thương mại

1.3.2. Đối với nền kinh tế

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng nợ xấu của các ngân hàng thương mại

1.4.1. Yếu tố vĩ mô

1.4.1.1. Tăng trưởng kinh tế
1.4.1.2. Tỷ lệ lạm phát

1.4.2. Yếu tố vi mô

1.4.2.1. Tỷ lệ nợ xấu
1.4.2.2. Quy mô ngân hàng
1.4.2.3. Tăng trưởng tín dụng
1.4.2.4. Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản
1.4.2.5. Kết quả hoạt động kinh doanh
1.4.2.6. Hiệu quả quản lý

1.5. Đề xuất các yếu tố ảnh hưởng nợ xấu của NHTM

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1. Tổng quan về hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam

2.1.1. Số lượng các ngân hàng thương mại

2.1.2. Tình hình huy động

2.1.3. Tình hình cho vay

2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh

2.2. Phân tích thực trạng nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

2.2.1. Phân tích tình hình nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam

2.2.2. Tình hình chung và xu hướng nợ xấu

2.2.3. Nợ xấu theo thành phần kinh tế

2.2.4. Nợ xấu lĩnh vực bất động sản

2.2.5. Đánh giá về công tác hạn chế nợ xấu của Ngân hàng thương mại Việt Nam

2.2.5.1. Biện pháp hạn chế nợ xấu đã thực hiện
2.2.5.2. Kết quả đạt được

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

3.1. Các biến nghiên cứu

3.1.1. Tăng trưởng kinh tế

3.1.2. Tỷ lệ lạm phát

3.1.3. Tỷ lệ nợ xấu

3.1.4. Quy mô ngân hàng

3.1.5. Tăng trưởng tín dụng

3.1.6. Tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản

3.1.7. Kết quả hoạt động kinh doanh

3.1.8. Hiệu quả quản lý

3.2. Mô hình nghiên cứu

3.3. Mẫu nghiên cứu

3.4. Quy trình nghiên cứu

3.5. Kết quả nghiên cứu

3.5.1. Thống kê mô tả

3.5.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

3.5.3. Ma trận hệ số tương quan

3.5.4. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu

3.6. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HẠN CHẾ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

4.1. Giải pháp đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2. Giải pháp đối với doanh nghiệp

4.3. Kiến nghị đối với Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước

4.4. Kết luận chương 4

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam

Nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng trong bối cảnh nền kinh tế hiện nay. Nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng mà còn tác động đến sự ổn định của nền kinh tế. Theo các nghiên cứu, nợ xấu được định nghĩa là các khoản vay không thể thu hồi, thường là do khách hàng không có khả năng thanh toán. Tình hình nợ xấu tại Việt Nam đã có những biến động lớn trong những năm qua, đặc biệt là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu.

1.1. Khái niệm và phân loại nợ xấu ngân hàng

Nợ xấu được phân loại thành nhiều nhóm khác nhau, từ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) đến nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày sẽ được xem là nợ xấu. Việc phân loại này giúp ngân hàng đánh giá chính xác tình hình tài chính và khả năng thu hồi nợ.

1.2. Tình hình nợ xấu tại Việt Nam hiện nay

Tình hình nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những diễn biến phức tạp. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu đã có xu hướng tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là trong các lĩnh vực như bất động sản và tín dụng tiêu dùng. Điều này đặt ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc quản lý rủi ro tín dụng.

II. Các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam

Nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm cả yếu tố vĩ mô và vi mô. Các yếu tố này không chỉ liên quan đến hoạt động của ngân hàng mà còn đến tình hình kinh tế chung của đất nước. Việc phân tích các yếu tố này là rất cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu nợ xấu.

2.1. Yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu

Tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát là hai yếu tố vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến nợ xấu. Khi nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, khả năng trả nợ của khách hàng cũng giảm, dẫn đến gia tăng nợ xấu. Ngoài ra, tỷ lệ lạm phát cao cũng có thể làm giảm sức mua của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán nợ.

2.2. Yếu tố vi mô ảnh hưởng đến nợ xấu

Các yếu tố như quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng và hiệu quả quản lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định tỷ lệ nợ xấu. Ngân hàng có quy mô lớn thường có khả năng phân tán rủi ro tốt hơn, trong khi ngân hàng nhỏ có thể gặp khó khăn hơn trong việc quản lý nợ xấu.

III. Vấn đề và thách thức trong quản lý nợ xấu ngân hàng

Quản lý nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức. Các ngân hàng cần phải cải thiện quy trình cho vay và quản lý rủi ro để giảm thiểu nợ xấu. Việc thiếu thông tin và phân tích khách hàng cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

3.1. Thách thức trong quy trình cho vay

Nhiều ngân hàng vẫn áp dụng quy trình cho vay lỏng lẻo, dẫn đến việc cho vay không đúng đối tượng. Điều này làm gia tăng rủi ro và tỷ lệ nợ xấu. Cần có các biện pháp chặt chẽ hơn trong việc thẩm định khách hàng trước khi cấp tín dụng.

3.2. Thiếu thông tin và phân tích khách hàng

Việc thiếu thông tin đầy đủ về khách hàng và thị trường cũng là một thách thức lớn. Các ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ và hệ thống thông tin để có thể theo dõi và phân tích tình hình tài chính của khách hàng một cách hiệu quả hơn.

IV. Giải pháp giảm thiểu nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam

Để giảm thiểu nợ xấu, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần áp dụng nhiều giải pháp đồng bộ. Việc cải thiện quy trình cho vay, tăng cường quản lý rủi ro và nâng cao năng lực phân tích khách hàng là những giải pháp quan trọng.

4.1. Cải thiện quy trình cho vay

Các ngân hàng cần xây dựng quy trình cho vay chặt chẽ hơn, bao gồm việc thẩm định kỹ lưỡng khả năng trả nợ của khách hàng. Việc áp dụng công nghệ trong quy trình này cũng sẽ giúp nâng cao hiệu quả.

4.2. Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng

Cần có các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả hơn, bao gồm việc theo dõi thường xuyên tình hình tài chính của khách hàng và có các biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện dấu hiệu nợ xấu.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về nợ xấu

Nghiên cứu về nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp quản lý rủi ro hiệu quả có thể giúp giảm thiểu tỷ lệ nợ xấu. Các ngân hàng cần học hỏi từ các mô hình thành công trên thế giới để cải thiện tình hình nợ xấu của mình.

5.1. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng tỷ lệ nợ xấu có thể giảm xuống nếu các ngân hàng áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả. Việc theo dõi và phân tích dữ liệu khách hàng là rất quan trọng trong quá trình này.

5.2. Ứng dụng các mô hình quản lý rủi ro quốc tế

Việc áp dụng các mô hình quản lý rủi ro tín dụng từ các quốc gia phát triển có thể giúp các ngân hàng Việt Nam cải thiện tình hình nợ xấu. Các ngân hàng cần nghiên cứu và áp dụng các phương pháp này một cách linh hoạt để phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

VI. Kết luận và tương lai của nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam

Nợ xấu ngân hàng thương mại Việt Nam là một vấn đề cần được giải quyết triệt để. Các ngân hàng cần có những chiến lược dài hạn để quản lý nợ xấu hiệu quả. Tương lai của nợ xấu phụ thuộc vào khả năng của các ngân hàng trong việc cải thiện quy trình cho vay và quản lý rủi ro.

6.1. Tương lai của nợ xấu ngân hàng

Nếu các ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả, tỷ lệ nợ xấu sẽ có xu hướng giảm. Điều này không chỉ giúp các ngân hàng ổn định hơn mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

6.2. Đề xuất chính sách từ Chính phủ

Chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ các ngân hàng trong việc quản lý nợ xấu, bao gồm việc cải thiện khung pháp lý và cung cấp thông tin thị trường. Sự hỗ trợ này sẽ giúp các ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn và giảm thiểu rủi ro.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

24/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh phân tích các yếu tố ảnh hưởng nợ xấu của ngân hàng thương mại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu của Ngân hàng thương mại: 1. Khái niệm: Theo Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng - Basel Committee on Banking Supervision (BCBS): - BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng BSBC xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiền sau xảy ra:(i) Ngân hàng người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (Basel Committee on Banking Supervision, 2002).

Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. - BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được.

Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính các quốc gia (IFRS), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả đầy đủ (người phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của tài khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế” ( IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Từ những định nghĩa trên cho thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên Thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi xuất hiện một hoặc cả hai dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị ngân hàng hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ.

Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là là khoản tiền cho khách hàng vay mà không thể thu hồi gốc và lãi lại được do khách hàng làm ăn thua lỗ, phá sản… Tại Việt Nam: nợ xấu là các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Cụ thể gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày (Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013). Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế có thể thấy mặt định lượng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tương đồng. dù phân loại theo phương pháp định tính hay định lượng các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 được xếp vào danh mục nợ xấu của ngân hàng.

Như vậy, nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro,… của ngân hàng đó. Nợ xấu trong các NHTM ở nước ta là các khoản nợ của các khách hàng chủ yếu là doanh nghiệp, hộ kinh doanh gia đình vay vốn của ngân hàng nhưng gặp khó khăn về tài chính bị ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên hoặc ngân hàng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng suy giảm nên phân loại vào nhóm 3 đến nhóm 5. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu: 1. Nguyên nhân chủ quan:  Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại Trình độ nghiệp vụ yếu kém, cách làm việc thiếu trách nhiệm của nhân viên tín dụng cộng với khả năng kiểm soát, quản lý của các cấp điều hành còn hạn chế cũng góp làm gia tăng nợ quá hạn (Gou Ning, 2007).

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Đạo đức nghề nghiệp của nhân viên ngân hàng sa sút do lợi ích cá nhân. Ngày càng nhiều vụ án liên quan đến việc nhân viên ngân hàng câu kết với khách hàng làm sai lệch hồ sơ, cố tình không làm đúng quy định cho vay (Berger và DeYong, 1997). Chính sách và quy trình cho vay chưa chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro một cách triệt để, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, xếp loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện cho vay và khả năng trả nợ. Đối với cho doanh nghiệp nhỏ và cá nhân, quyết định cho vay của ngân hàng chỉ dựa vào kinh nghiệm cá nhân, chưa áp dụng công cụ chấm điểm tín dụng (Shil and et, 2005).

Năng lực dự báo, phân tích và thẩm định tín dụng, phát hiện và xử lý khoản vay có vấn đề của cán bộ tín dụng còn yếu kém, nhất là đối với các ngành đòi hỏi hiểu biết chuyên môn cao dẫn đến sai lầm trong quyết định cho vay. Mặt khác, sự thiếu kiểm soát chặt chẽ khách hàng trong quá trình cho vay dẫn đến trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích nhưng ngân hàng không ngăn chặn kịp thời. Hệ quả tất yếu của việc tăng trưởng tín dụng nóng, thiếu kiểm soát của các ngân hàng. Dưới áp lực tăng trưởng tín dụng, ngân hàng hạ thấp tiêu chí xét duyệt cho vay của để cạnh tranh với các đối thủ và thu hút khách hàng.Tăng trưởng tín dụng nóng kết hợp với nới lỏng tiêu chí xét duyệt cho vay sẽ tìm ẩn rủi ro rất lớn, nguy cơ nợ xấu xuất hiện rất cao nếu khách hàng vay vốn gặp vấn đề trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng (Pasha và Khemraj, 2009).

 Nguyên nhân từ khách hàng vay vốn Trình độ, năng lực quản trị kinh doanh yếu kém dẫn đến sai lầm trong việc sử dụng tiền vay không hiệu quả, không những không có tác động đến thúc đẩy hoạt động kinh doanh mà còn đẩy doanh nghiệp đến cảnh nợ nần, gia tăng chi phí kinh doanh (Gou Ning, 2007). Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích vay vốn ban đầu. Việc không giám sát chặt chẽ của ngân hàng sau khi cấp tín dụng đã tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, dẫn đến rủi ro không thu hồi được nợ vay nếu khách hàng bị thua lỗ, phá sản hoặc sử dụng vốn vay vào những lĩnh vực mà pháp luật không cho phép. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Khách hàng thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay cho ngân hàng, một số khách hàng có năng lực tài chính tốt nhưng chây ỳ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, không bàn giao TSĐB cho ngân hàng xử lý, nhằm chiếm dụng hoặc chiếm đoạt vốn ngân hàng.

Nguyên nhân khách quan: Môi trường chính trị - kinh tế, xã hội: một sự thay đổi của các chính sách quản lý kinh tế, do hành lang pháp lý chưa phù hợp, do biến động thị trường trong và ngoài nước, cung cầu hàng hóa thay đổi, một sự thay đổi trong tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát… cũng khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, từ đó ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng (Louzis et al, 2011). Môi trường kinh doanh không thuận lợi, ngành nghề kinh doanh của khách hàng đang gặp khó khăn. Ngoài ra cũng có sự tác động của những yếu tố không thể lường trước được hoặc không thể tránh khỏi: bão, hạn hán, lở núi, sóng thần… sẽ gây thiệt hại lớn cho các thành phần kinh tế. Hệ thống cung cấp, kiểm soát thông tin khách hàng vay còn nhiều yếu kém, hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và không nghiêm minh sẽ không thể răn đe các đối tượng có dụng ý xấu 1.

Tác động tiêu cực của nợ xấu: Nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo gây nên sự đổ vỡ lòng tin. Nợ xấu luôn song hành cùng hoạt động tín dụng theo mối quan hệ giữa lợi nhuận và rủi ro. Vì vậy khi đưa ra một món cho vay thì ngân hàng đã xác định nguy cơ phát sinh nợ xấu. Vấn đề là cần xác định xem tỷ lệ nợ xấu thế nào là phù hợp, tỷ lệ nào là cao và bắt đầu ảnh hưởng xấu đến hoạt động của NHTM.

Theo chuẩn mực quốc tế hiện nay thì tỷ lệ nợ xấu có thể chấp nhận được là dưới 5%. Yêu cầu về tỷ lệ nợ xấu được đưa ra vì khi nợ xấu ở mức độ cao sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng đối với NHTM và nếu xảy ra ở trên diện rộng có thể dẫn đến khủng hoảng cho nền kinh tế. Nợ xấu có những tác động chính ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến hoạt động của các NHTM và doanh nghiệp như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối với hoạt động Ngân hàng thương mại:  Giảm lợi nhuận của ngân hàng: Nợ xấu làm cho doanh thu thấp dẫn đến tình trạng thua lỗ.

Hơn nữa kể cả trường hợp không thua lỗ thì do nợ xấu phát sinh, các khoản chi phí cũng tăng lên đáng kể: nó bao gồm chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lý nợ xấu, chi phí trích lập DPRR và các chi phí khác liên quan. Việc gia tăng các khoản chi phí khiến cho lợi nhuận còn lại cũng trở nên thấp hơn so với dự tính ban đầu.  Ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng: Do không thu hồi được các khoản cho vay, nợ xấu làm chậm quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng. Trong khi đó ngân hàng vẫn phải có trách nhiệm thanh toán cho những khoản tiền gửi, điều này sẽ khiến ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán.

Với tỷ lệ nợ xấu ở mức cao còn có thể dẫn đến sự phá sản của các NHTM.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ