phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hƣởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thƣơng mại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 2: Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Việt Nam. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Hệ số an toàn vốn tại NHTM 1.1 Khái niệm Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) tại NHTM là một thƣớc đo về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có quy đổi rủi ro, biểu thị sức mạnh tài chính của ngân hàng. Hệ số này thƣờng đƣợc dùng để bảo vệ những ngƣời gửi tiền trƣớc rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng nhƣ hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu. Bằng hệ số này ngƣời ta có thể xác định đƣợc khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác nhƣ rủi ro tín dụng, rủi ro vận hành.
Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo đƣợc hệ số này tức là đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những ngƣời gửi tiền. CAR cho ý nghĩa tƣơng tự nhƣ tỷ lệ đòn bẩy. Hệ số này giúp xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động…Xem xét hệ số này cũng giúp tạo ra công bằng khi đánh giá rủi ro trong hoạt động giữa các ngân hàng. Ngân hàng trung ƣơng các nƣớc thƣờng quy định CAR tối thiểu để bảo vệ ngƣời gửi tiền, ngƣời cho vay và qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính.2 Đo lƣờng hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn trong hoạt động của NHTM đƣợc đo lƣờng thông qua công thức: (Vốn cấp I + Vốn cấp II) CAR = X 100% (1.1) Tài sản đã điều chỉnh rủi ro Trong đó: - Vốn cấp I là thƣớc đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý.
Theo hiệp ƣớc Basel đƣợc đƣa ra bởi Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng thành lập vào năm 1974 bởi một nhóm các Ngân hàng Trung ƣơng và cơ quan giám sát của 10 nƣớc phát triển (G10) tại thành phố Basel, Thụy Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập kỷ 80, vốn cấp I bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất nhƣ: cổ phiếu thƣờng, cổ phiếu ƣu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Khái niệm chung là nhƣ vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nƣớc lại có những qui định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể nào có thể đƣợc tính vào vốn cấp I. - Vốn cấp II bao gồm: lợi nhuận chƣa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. - Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ đƣợc tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý thƣờng là ngân hàng trung ƣơng đƣa ra.
Hầu hết các ngân hàng trung ƣơng đều theo chuẩn của ngân hàng Thanh toán Quốc tế để đặt ra những trọng số này.3 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng đƣợc nhắc tới khi đánh giá hoạt động của NHTM, đây cũng là chỉ tiêu đƣợc bàn luận nhiều nhằm đƣa ra cách xác định hệ số này một cách hợp lý nhất. Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của hệ số này trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng. Quả thực trong xu hƣớng quốc tế hoá và nền kinh tế thị trƣờng ngày nay, các NHTM luôn phải đối mặt với hai vấn đề lớn đó là năng lực cạnh tranh và rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng của một ngân hàng trƣớc hai vấn đề trên.
- Hệ số an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng: CAR đƣợc cấu thành bởi hai thành phần rất quan trọng đó là vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi. Nếu nhƣ vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế. Vì vậy CAR chính là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra. Một ngân hàng có CAR đạt tiêu chuẩn theo quy định nghĩa là ngân hàng có khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền gửi.
- Thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn giúp tăng uy tín cho NHTM. Kinh doanh tiền gửi là một loại hình kinh doanh đặc biệt mà trong đó uy tín của ngân hàng đóng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngân hàng. Một ngân hàng có hệ số an toàn đạt tiêu chuẩn không đơn thuần là việc ngân hàng đã chấp hành đúng quy định của ngân hàng trung ƣơng đặt ra mà bản thân ngân hàng sẽ tạo đƣợc uy tín đối với khách hàng. Tạo đƣợc uy tín đối với khách hàng cũng đồng nghĩa với khả năng tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác.
Ngoài ra CAR còn là công cụ để thanh tra ngân hàng trung ƣơng thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là kiểm tra việc đảm bảo vốn thực có so với vốn đăng ký ghi trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra quỹ dự phòng rủi ro có chấp hành theo quy định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM. Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản điều này có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của cả quốc gia.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Các yếu tố vĩ mô 1.1 Môi trƣờng kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nƣớc Ngân hàng thƣơng mại là một tổ chức tài chính trung gian với vị trí là mạch máu của nền kinh tế, vì vậy những biến động của môi trƣờng kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hƣởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng. Nếu môi trƣờng kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo đƣợc những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM. Khi nền kinh tế tăng trƣởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc thúc đẩy và mở rộng các hoạt động tín dụng từ đó gia tăng lợi nhuận.
Tốc độ tăng trƣởng kinh tế thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội. Tốc độ tăng trƣởng GDP ảnh hƣởng đến cung cầu tín dụng và lƣợng tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trƣởng cao từ đó nhu cầu tín dụng cũng tăng cao xuất phát từ nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, vì vậy các NHTM có nhiều lựa chọn hơn trong việc lựa chọn những khách hàng tốt, đủ tiêu chuẩn, đủ năng lực tài chính để tiến hành cho vay và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Bên cạnh đó khi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 lƣợng tiền gửi trong dân cƣ tăng cao cũng là một yếu tố góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM.
Ngƣợc lại khi môi trƣờng kinh tế, chính trị và xã hội bất ổn lại là một nhân tố tác động tiêu cực đến hoạt động của NHTM nói chung và hệ số an toàn vốn nói riêng. Khi đó nhu cầu vay vốn giảm sút, hoạt động tín dụng của NHTM ẩn chứa đầy rủi ro với nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng đồng thời chi phí dự phòng rủi ro cũng tăng cao, điều này sẽ tác động tiêu cực đến sự an toàn trong hoạt động của NHTM. Hơn nữa, hiện nay toàn cầu hóa và quá trình hội trình hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra ngày càng sâu và rộng đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Điều này đòi hỏi các NHTM phải tự nâng cao sức mạnh tài chính, hoàn thiện sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế về hệ số an toàn vốn thì mới có thể cạnh tranh đƣợc với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực về vốn, công nghệ và năng lực quản lý.2 Môi trƣờng pháp lý Môi trƣờng pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dƣới luật và việc chấp hành luật.
Nếu hệ thống pháp luật đƣợc xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là rào cản lớn cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của NHTM nói riêng. Có thể nói, tình hình phát hành, lƣu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hƣởng sâu rộng đến tổng thể nền kinh tế, hơn nữa, đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác. Do đó, một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản lý nhà nƣớc nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngƣời gửi tiền và ngƣời đầu tƣ.