mở đầu, trình bày các mục tiêu, vấn đề cần thực hiện trong luận văn, các lý do cũng như ý nghĩa khoa học, tầm quan trọng và tính cấp thiết của đề tài. Chƣơng 2 trình bày tổng quan vấn đề cần nghiên cứu. Các nghiên cứu, lý thuyết được trình bày trong chương này, bao gồm mô hình, kiến trúc MOSFET, DT-MOSFET; công nghệ sản xuất vi mạch; các mô hình BSIM dùng để mô hình hóa các linh kiện MOSFET trong mô phỏng vi mạch; các mạch tham chiếu điện áp. Chƣơng 3 trình bày về thiết kế, sản xuất DT-MOSFET trên nhà máy sản xuất ảo với TCAD.
Chƣơng 4 đưa ra trình tự quá trình mô phỏng, cách thức trích xuất các thông số và một số kết quả. Phần kết luận chung của đề tài được trình bày ngắn gọn trong chương 5. Cuối cùng là danh sách các tài liệu tham khảo.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 CHƢƠNG 2. TỔNG QUAN Với mục tiêu dài hơi trong việc tạo ra bộ thư viện PDK của một nhà máy sản xuất, với mục tiêu đánh giá các thay đổi thông số sản xuất (process variation) ảnh hưởng ra sao đến chất lượng MOSFET cũng như chất lượng các mạch; trong công nghiệp cũng như tại các đơn vị nghiên cứu trên thế giới; có một số phương pháp được nghiên cứu và phát triển để trích xuất thông số hoặc dựa trên đo đạc thực tế hoặc dựa trên mô phỏng [1].Một số phương pháp được phát triển để xác định đặc tính của 1 số thông số transitor [2].Hay như trong nghiên cứu [3], các tác giả đã tìm ra trong công nghệ 65nm, các thay đổi trong chiều dài kênh, điện áp ngưỡng threshold voltage, độ linh động của các tạp chất pha vào MOSFET là những nguồn quan trọng làm thay đổi đặc tính của MOSFET.
Việc xác định các ảnh hưởng của các thông số trong MOSFET như trên là dựa trên TCAD hoặc đo đạc thực tế sau khi sản xuất xong các test chip, hoặc là các mạch cụ thể nào đó. Các mảng transistor, mạch ring oscillator là những cấu trúc test điển hình cho mục tiêu trên [4].Tuy nhiên, có rất ít các công trình công bố về các dữ liệu đo đạc thiết bị thật từ sản xuất để xem xét ảnh hưởng của quá trình sản xuất (như tác giả chỉ tìm thấy 1 công trình duy nhất trong [5]), một phần là việc sản xuất thật rất tốt chi phí-thời gian, và một phần là các hãng công nghiệp bảo vệ bí mật công nghệ, không công bố. Do vậy, trong đề tài này, TCAD được sử dụng như là một nhà máy sản xuất ảo. Để sử dụng được, lập trình thiết kế các cấu trúc vi mạch, các kiến thức cần có về MOSFET, về công nghệ sản xuất vi mạch được trình bày trong các phần từ 2.
Chương 3 là thiết kế trong đề tài, được trình bày riêng và chi tiết hơn. Từ quá trình sản xuất trên, một bước quan trọng là cần phải có mô hình của các MOSFET.Trong đề tài này, mô hình BSIM được sử dụng và được trình bày trong phần 2. Các mảng transistor, mạch ring oscillator là những cấu trúc test điển hình cho xem xét ảnh hưởng của thay đổi thông số trong sản xuất lên chất lượng vi mạch ra sao [4], trong đề tài này, vi mạch tham chiếu điện áp (bandgap reference) được sử dụng. Do vậy, phần 2.6 sẽ trình bày tóm tắt về vi mạch này.7 trình bày thống kê 1 số công trình liên quan trực tiếp đến DTMOS và mạch tham chiếu điện áp.
Vi mạch tham chiếu điện áp (bandgap reference) được ứng dụng trong nhiều hệ thống vi mạch hiện đại vì khả năng tạo nguồn dòng “gần như” không đổi của chúng bằng cách hạn chế tối đa ảnh hưởng của thông số PVT (Process-Voltage-Temperatre). Từ khởi nguồn thiết kế vào những thập niên 60s và 70s ([6] - [9]), những thiết kế về bandgap 12 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 reference luôn được chú trọng và phát triển cho đến ngày nay. Những yếu tố được quan tâm trong thời điểm hiện tại của một thiết kế bandgap reference bao gồm: tối ưu hóa sai số gây bởi công nghệ thiết kế [8], điện áp cung cấp thấp [9]…Sau 40 nghiên cứu và phát triển mô hình mạch tham chiếu điện áp dưới – 1V được phát kiến và nghiên cứu [10] và đạt được hệ số phụ thuộc nhiệt độ (TC – temperature-coefficients) cực kỳ thấp[11] – khả năng này cho phép những mạch tham chiếu bandgap tạo ra được nguồn điện áp chuẩn hơn rất nhiều so với những kiến trúc cổ điển. Trong vi mạch tham chiếu điện áp việc tối ưu hóa những ảnh hưởng của các thông số PVT đạt được bằng việc sử dụng tính chất thay đổi theo nhiệt độ của Transistor Lưỡng Cực (BJT) hoặc cổ điển hơn là Diode.
Tuy nhiên, công nghệ MOSFET ngày càng phát triển với tốc độ rất nhanh, kích thước của các MOSFET ngày càng được giảm xuống nhằm tăng mật độ tích hợp linh kiện trên một đơn vị diện tích wafer khiến cho điện áp cung cấp cho những linh kiện cũng theo đó giảm xuống. Với điện áp cung cấp thấp việc tạo ra được một mạch sub-1V bandgap trở nên khó khăn hơn vì linh kiện Diode và BJT đòi hỏi phải có điện áp phân cực lớn trong khi đó các CMOS lại không đủ khả năng để thay đổi những thông số PVT.Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra về một linh kiện với kiến trúc mới dành cho điện áp thấp và đảm bảo công suất thấp đã được nghiên cứu và phát triển. Linh kiện này được gọi là DTMOS được phát triển lần đầu tiên vào năm 1995 bởi Annema[12].Từ đó đến nay, những kiến trúc dựa trên kỹ thuật Dynamic Threshold lần lượt ra đời với ứng dụng ngày càng mở rộng.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 2. Cấu tạo – Hoạt động của NMOS và PMOS 2.
Cấu tạo Hình 2.1 Cấu tạo các lớp bán dẫn của nMOS. [19] MOS: metal-oxide-semiconductor. Là linh kiện có 4 cổng: gate (G), source (S), drain (D) and body (B). Kích thước linh kiện được đặc tả bằng chiều rộng W và chiều dài L của “channel region” như trên hình.
Có hai loại: n-channel (nMOS) và p-channel (pMOS). Với cấu tạo như trên, MOS cấu trúc giống như hai tụ điện xếp chồng lên nhau với lớp oxide nằm ở giữa. Hai lớp liên kết pn giữa cổng S-B và D-B như hai diode mắc ngược nhau, do đó, khi không có sự phân cực cổng G, dòng qua hai cổng S-D bằng (cutoff region). Hoạt động Tạo kênh dẫn Hình 2.2 Tạo kênh dẫn cho nMOS [19] 14 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 Để MOS có thể dẫn, phải tạo một kênh dẫn từ cổng D đến S.
Một điện áp dương được đặc vào cổng G, tạo ra một điện trường và gây ra miền nghèo tại bề mặt tiếp xúc của p-type và lớp oxide bằng cách đẩy các lổ trống ra xa bề mặt, khi điện áp dương này thắng được điện áp Threshold Voltage (Vt) thì các electron bắt đầu tích tụ tại bề mặt tiếp xúc và tạo ra một miền dẫn từ cổng D đến cổng S. Hoạt động của MOS khi vDS nhỏ Khi vGS >Vt, miền dẫn được tao ra. Khi đặt một điện áp vào cổng D, các electron di chuyển từ cổng S đến D thông qua miền dẫn, do đó dòng điện đi từ D đến S. Kênh dẫn được điều khiển bởi Overdrive Voltage vOV = vGS – Vt.
Số các electron mang điện trên kênh dẫn: |Q|=COX.vOV COX là điện dung trên một đơn vị diện tích. Lúc này, đặc tuyến I-V mô tả hoạt động của MOS có thể được xấp xỉ là tuyến tính.3 Đặc tuyến I-V của MOS khi VDS nhỏ [19] Khi tăng dần vDS Hình 2.4 Ảnh hưởng của VDS lên kênh dẫn [19] 15 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 Do ảnh hưởng của điện áp vDS nên lúc này, kênh dẫn không còn đối xứng ở hai đầu cổng D-S nữa mà sẽ càng hẹp khi càng về cổng D. Khi đến một điện áp bão hòa VDsaturation=VGS – Vt, kênh dẫn sẽ hóp lại ở phía cổng D, lúc này dòng điện qua D-S sẽ bão hòa, cho dù VDS có tăng nữa. Do đó, phân thành hai vùng hoạt động của nMOS: Triode region: vDS< vDSsat.
Saturation region: vDS> vDSsat.5 Đặc tuyến làm việc của nMOS [19] Các công thức Số lượng hạt dẫn trên 1 đơn vị diện tích QI(x)= Cox(vGS-Vt –v(x)). Điện trở vi phân dọc theo kênh dẫn. dx dx dR q.QI ( x) Theo định luật Ohm: 16 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 iD dx iD dx dv iD dR nWQi ( x) nCox [vGS Vt v( x)] vDS L 0 nCox[vGS Vt v( x)]dv 0 iDdx CoxW 1 2 iD n [(vGS Vt )vDS vDS ] L 2 Đặt kn= μnCOX(W/L). Vậy: Triode region: iD=kn[(vGS – VT)vDS – 0.
Saturation region: iDsat= 0. Điện trở trên miền dẫn khi vDS nhỏ: rDS = 1/kn(vGS – Vt). Đối với pMOS, cấu tạo và hoạt động cũng tương tự, chỉ thay đổi giữa n-type và p-type, do đó lúc phân cực phải đặt vào cổng G một điện áp âm và thường đặt vào S điện áp dương để dẫn từ S đến D. Mô hình hóa NMOS Một nMOS có thể được mô hình hóa bằng một mạch tương đương dưới đây, gọi là mô hình large-signal ở miền bão hòa.6 Mô hình large-signal (saturation) của nMOS [19] Điện trở ngõ ra Chiều dài kênh dẫn sẽ giảm khi vDS > vDSsat 17 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 Hình 2.7 Ảnh hưởng của vDS lên chiều dài kênh dẫn [19] Khi đó, dòng qua kênh dẫn sẽ được tính theo công thức.
vGS Vt L L 0 k 'n W [vGS Vt v(x)]dv i dx 0 D 1 W 1 W L iD k 'n (vGS Vt ) 2 k 'n (vGS Vt ) 2 (1 ) 2 L L 2 L L L 1 W vDS iD k 'n (vGS Vt )2 (1 vDS ) Vì rằng L 2 L Do đó, điện trở qua kênh dẫn được tính bằng công thức iD 1 k' W 1 V r0 [ ]vGS const [ n (vGS Vt ) 2 ]1 A vDS 2 L ID ID Lúc này, mô hình large-signal sẽ có thêm được trở ngõ ra Hình 2.8 Mô hình large-signal có thêm điện trở ngõ ra [19] VA: được gọi là Early Voltage. ID: dòng điện qua kênh dẫn miền bão hòa. Mô hình tín hiệu nhỏ (small-signal model) Ở miền bão hòa 18 GVHD: PGS.TS HOÀNG TRANG HV: HUỲNH VĂN THỊNH 7140389 1 1 I D kn (VGS Vt )2 knVOV 2 2 2 VDS VDD I D RD VOV MOS thường được sử dụng với chức năng khuếch đại áp ở miền bão hòa.