CHƯƠNG I CÔNG TRÌNH NỀN ĐƯỜNG VÀ CÁC YÊU CẦUVỀ KỸ THUẬT - THI CÔNG I-1-NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN ĐƯỜNG.1 Khái niệm chung: Nền đường là công trình xây dựng bằng đất, đá nhằm khắc phục địa hình thiên nhiên tạo nên tuyến đường như thiết kế trong bình đồ, trắc dọc, trắc ngang, tạo điều kiện cho xe chạy an toàn và êm thuận và kinh tế. Làm cơ sở cho áo đường: Lớp phía trên của nền đường cùng với áo đường chịu đựng tác dụng của xe do đó có ảnh hưởng rất lớn đến cường độ và tình trạng khai thác của cả kết cấu áo đường Nền đường và mặt đường tạo nên kết cấu thống nhất chịu tác dụng của tải trọng xe cũng như điều kiện khí hậu, thời tiết và các tác động khác của con người. Nền đường chịu trực tiếp tác dụng của tải trọng bánh xe truyền qua mặt đường xuống nền đường (hình 1 và 2). Ngoài ra nền đường còn chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thuỷ nhiệt (nước các loại, gió, nắng.) chính vì vậy để đảm bảo nền đường khai thác tốt trong quá trình sử dụng cần các tiêu chuẩn kỹ thuật và các yêu cầu nhất định về câu tạo và điều kiện sử dụng.
HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 5 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 1.2 Các dạng mặt cắt ngang nền đường: A-Dạng thông thường (như các hình dưới ) HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 6 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 7 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT B-Dạng đặc biệt Theo các tài liệu về thiết kế nền mặt đường, tuỳ thuộc tình hình đào đắp có thể chia nền đường thành 3 loại chính: - Nền đường đắp: là nền đường đắp đất mà mặt đỉnh nền đường cao hơn mặt đất nguyên thuỷ. - Nền đường đào: Từ mặt đất nguyên thuỷ phải đào bớt để xây dựng nền đường. Nền đào gồm có các dạng sau: đào hoàn toàn, đào chữ L và đào dạng nửa hầm. HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 8 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT - Nền đường nửa đào nửa đắp: Là nền đường trên mặt cắt ngang vừa có đào, vừa có đắp.
Loại này thường gặp ở vùng có sườn núi tương đối dốc. * Nền đường đắp: + Đồng bằng, trung du, nền đắp được áp dụng phổ biến tránh nền đường bị ẩm ướt, cao độ vai đường MNTK ít nhất 0,5m - Nền đường đắp thấp: H 1m - Nền đường thông thường: H = 16m - Nền đường đắp cao: H=612m - Nền đường đặc biệt: H 12m + Các loại mặt cắt ngang nền đường: a. Nền đường đắp có rãnh dọc hình tam giác. Nền đường đắp thấp có rãnh dọc hình thang.
Nền đường đắp lấy đất thùng đấu. Nền đường đắp lấy đất thùng đấu có bậc thềm. HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 9 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT e. Nền đường đắp thông thường.
f, Nền đường đắp cao có bậc g, Nền đường đắp cao có độ dốc mái thay đổi + Độ dốc của mái taluy: - Thông thường đắp bằng đất: 1:1,5 - Khi chiều cao nền đắp quá chiều cao quy định thì phần ta luy bên dưới dùng độ dốc 1:1,75 - Khi chiều cao quá 12m thì phải thiết kế cá biệt - Đắp cao cần kiểm toán ổn định tính độ dốc mái: quyết định chiều rộng của bậc b, tuỳ theo chiều cao h và vật liệu đắp. Đắp cát đắp thoải: 1:1,5; 1:1,25 Có biện pháp gia cố mái đường chống xói khi mưa Đắp bằng đá: Trường hợp nền đường đắp bằng đá thì tuỳ theo cớ đá và cách thi công mà quyết định độ dốc ta luy. Ưu điểm là có thể đắp được với độ dốc lớn tuỳ theo kích cỡ đá và chiều cao taluy độ dốc có thể đạt được: 1:0,75; 1:1; có thể thay việc xây tường chắn bằng việc đắp đá. Khi bỏ đá để phòng hộ ta luy thì phải đảm bảo độ dốc ta luy phần đá là: +) 1:1 khi nước sâu không quá 2m +) 1:1,5 khi nước sâu (2 – 6)m HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 10 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT +) 1:2 khi nước sâu trên 6m - Trước khi đắp, nền đường có độ dốc 20% thì ta phải thực hiện đánh cấp.
* Nền đường đào: + Đường ở vùng núi người ta sử dụng nền đường đào là phổ biến - Nửa đào nửa đắp - Đào hoàn toàn chữ L - Đào hoàn toàn chữ U a, Nền đường nửa đào nửa đắp b, Nền đường đào hoàn toàn chữ U c, Nền đường đào hoàn toàn chữ L + Độ dốc mái taluy nền đường đào: - Đào qua đất, áp dụng taluy 1:1 - Đào qua nền đường đá: tuỳ theo loại đá và mức độ phong hoá, tuỳ theo chiều cao mái taluy H quyết định độ dốc: 1:0; 1:0,25; 1:0,5; 1:0,75 - Khi chiều cao H lớn có thể thay đổi độ dốc, làm bậc. * Nền đường kết hợp với tường chắn đất + Đường ở miền núi có được độ dốc địa hình tự nhiên lớn, trừ trường hợp độ dốc mái taluy không ổn định người ta phải xây nền đường kết hợp tường chắn. HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 11 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT Nền đường qua thành phố để giảm diện tích chiếm đất người ta kết hợp nền đường với tường chắn. + Các dạng nền đường kết hợp với tường chắn a, Tường chắn kè chân b, Tường chắn kè vai c, Kè vai d, Tường chắn taluy dương + Cấu tạo: - Tường trọng lực - Tường mỏng BTCT - Tường mềm: Rọ đá + đá hộc; tường vải địa kỹ thuật; tường chắn đất có cốt (cốt thép) - Móng: * Móng nông * Móng cọc: Chống cắt, ổn định, tăng khả năng chịu tải Cọc khoan nhồi Cọc đóng, ép (đối với nền đất yếu) 1.3 Nền đường đắp cao: Nền đắp là một trong những công trình xây dựng lâu đời và thường gặp nhất.Trước đây người ta thường xây dựng nền đắp đi qua các vùng địa chất tốt để giảm bớt những vấn đề kỹ thuật phải xử lý và hạ giá thành xây dựng.
Tuy nhiên sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội hiện nay đã đặt ra việc chinh phục và sử dụng các vùng đất mềm yếu mà trước hết là việc xây dựng các tuyến đê lấn biển, việc phát triển mạng lưới các đường giao thông cầu cảng… Các vấn đề liên quan tới sự ổn định của nền đường đắp là những điều cần được quan tâm trước tiên. Do thiếu sót của công tác khảo sát, thiết kế hoặc thi công mà nền đường đắp thường bị hư hỏng vì mất ổn định trong và sau khi xây dựng công trình. Việc xử lý hậu quả do những hư hỏng vì nền đắp mất ổn định thường rất phức tạp và tốn kém. Thường gặp các vấn đề liên quan đến lún ( với các mức độ khác nhau) cho tất cả các nền đắp xây dựng trên đất yếu, do ứng suất của nền đắp tác dụng len đất yếu đủ để gây ra các biến dạng lớn.
HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 12 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT Trong xây dựng cầu đường cần đặc biệt chú ý đến độ lún, vì đây là nguyên nhân làm cho nhiều công trình cầu đường bị hư hởng phải sử lý rất tốn kém hoặc nhiều khi không xử lý được. Việc xử lý nối tiếp giữa nền đắp và công trình cũng là một trong những vấn đề khó giải quyết 1.1 Các thông số về hình học: - Chiều cao taluy đắp H : là chiều cao tính từ cao độ vai đường đến chân ta luy đắp. - Chiều cao tự nhiên tại vị trí thiết kế nền đường đắp. - Độ dốc mái đường đắp (còn gọi là độ dốc ta luy đắp) tuỳ thuộc vào chiều cao, địa hình tự nhiên mà ta luy có thể có độ dốc đều hoặc nhiều độ dốc.
- Độ dốc ngang : là độ dốc ngang của vị trí tự nhiên tại vị trí thiết kế nền đường đắp. Các thông số hình học của nền đường đào thường được xác định theo các quy trình, tiêu chuẩn thiết kế căn cứ vào độ dốc tự nhiên tại vị trí đắp, chiều cao đắp. Thực tế trên nhiều đoạn đường đắp thường xẩy ra hiện tượng lún, sụt, trượt trồi, trượt sâu mà trong giai đoạn khai thác mới phát hiện ra, vì vậy việc xử lý rất phức tạp và tốn kém.2 Các đặc điểm về địa hình: Tuỳ thuộc vào loại địa hình của vùng tuyến đi qua. Căn cứ vào các quy trình thiết kế đường ô tô hiện hành, địa hình tuyến đi qua có thể phân chia thành các loại sau: -Vùng đồng bằng : Địa hình bằng phẳng, số lượng đồi núi rất ít.
Loại nền đường chủ yếu là nền đường đắp, đặc trưng là đắp thấp, ít có nền đường đắp cao. Loại hình nền đường đắp cao chỉ gặp ở khu vực đường đầu cầu, nơi tiếp giáp giữa cầu Vùng núi : Địa hình khó khăn nên tuyến đường có nhiều đèo, dốc. Nền đường chủ yếu thuộc loại nền đường đào, hoặc nửa đào nửa đắp. Tuy nhiên khi khu vực tuyến đi qua thung lũng, vượt địa hình cắt mom xen kẽ khe suối thì cũng gặp dạng nền đường đắp.
-Vùng đồi (trung du): Thực chất thì vùng đồi là vùng chuyển tiếp giữa đồng bằng và vùng núi do đó nó mang đặc trưng của cả hai vùng trên nghĩa là có tất cả các dạng nền đường. HỌC VIÊN: VŨ PHƯỢNG KHANH Trang 13 LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 1.3 Các đặc điểm về đất : Các tính chất vật lý của đất a/Sự hình thành và kết cấu của đất: Các nham thạch của lớp vỏ trái đất được tạo thành trong những quá trình khác nhau được phân chia thành ba nhóm chính: Mác ma, trầm tích và biến chất. Trong xây dựng thường tiếp xúc với các loại nham thạch trầm tích trẻ nhất của kỷ thứ tư, trong đó có các loại đất dính(sét, á sét, á cát), cát sỏi và cuội. Các sản phẩm phong hoá được giữ nguyên tại chỗ gọi là tàn tích, các sản phẩm được đổi chỗ từ gò đống cao đến ven sườn của chúng gọi là sườn tích.
Địa tầng trong các lưu vực sông biển gọi là bồi tích b/Các thành phần của đất: Đất được xem là hợp thể phân tán phức tạp, tính chất xây dựng của đất phụ thuộc vào số lượng và tính chất cuả các pha hợp thành cũng như vào kết cấu và cáu tạo của đất.