Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu Chương 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Phân tích kết quả và thảo luận Chương 5. Kết luận và kiến nghị chính sách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Chương 2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÍN DỤNG NÔNG THÔN 2. Các khái niệm cơ bản 2.
Tài chính nông thôn Là các giao dịch tài chính liên quan đến các hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp ở khu vực nông thôn. Tài chính nông thôn là tất cả các dịch vụ tài chính cần cho nông nghiệp, nông dân và gia đình ở nông thôn, không chỉ là tín dụng (IFAD, 2009). Tín dụng nông thôn Tín dụng được hiểu là quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, là sự chuyển nhượng quyền sử dụng giá trị hay hiện vật do hai bên thỏa thuận, và người vay phải trả người cho vay một khoản lợi tức khi đến thời hạn do hai bên thỏa thuận. Theo thuật ngữ tài chính thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại trong các phương thức sản xuất hàng hóa khác nhau và được biểu hiện như sự vay mượn trong một thời hạn nào đó.
Khái niệm vay mượn bao gồm sự hoàn trả, và sự hoàn trả là đặc trưng của tín dụng, phân biệt giữa phạm trù tín dụng với những dạng cấp phát tài chính khác. Đối tượng của tín dụng ở dạng hàng hóa, vật tư hay tiền, được sử dụng nhằm mục đích tạo lãi. Chủ thể tham gia tín dụng là tổ chức hoặc cá nhân đóng vai trò là người đi vay hoặc cho vay. Tín dụng ngoài hình thức vận động của tiền tệ nó còn là một mối quan hệ xã hội được dựa trên cơ sở lòng tin và ngày nay được xác định bằng quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật, và trong thực tế, quan hệ bằng lòng tin vẫn còn khá phổ biến, nhất là ở khu vực nông thôn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Các loại hình tín dụng: - Tín dụng chính thức: giao dịch tín dụng giữa tổ chức và cá nhân với ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng tiết kiệm đặc biệt (hình thức tiết kiệm Bưu điện trước đây), ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng trung ương và khu vực,…. - Tín dụng bán chính thức: giao dịch tín dụng giữa cá nhân với tổ chức thông qua các hình thức quỹ tương trợ của tổ chức đoàn thể (hội nông dân, hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu chiến binh…), quỹ tín dụng hợp tác xã, hiệp hội tín dụng, ngân hàng cấp xã, nhóm trợ giúp, các chương trình phát triển nông thôn, các chương trình tài chính của các dự án phi chính phủ. - Tín dụng không chính thức: giao dịch tín dụng giữa các cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức thông qua câu lạc bộ tiết kiệm cộng đồng, quỹ tương trợ, hụi-họ, đại lí vật tư nông nghiệp, chủ kho, thương gia hoặc nông dân với vai trò là người cho vay hay vay mượn từ bạn bè, bà con. Thị trường tín dụng nông thôn.
Đặc điểm của thị trường tín dụng nông thôn là chi phí giao dịch cao: do khách hàng có địa bàn cư trú phân tán, cộng đồng nông dân đa dạng, giá trị vay nợ thấp, chi phí giao dịch cao (thời gian di chuyển, phương tiện và điều kiện đi lại khó khăn, chi phí khác cần có khi cho vay và thu hồi nợ,…), chi phí thông tin và tiếp thị cao hơn khu vực khác do cơ sở hạ tầng thông tin còn yếu kém. Bên cạnh đó có nhiều rủi ro tiềm ẩn khi phát sinh giao dịch tín dụng ở địa bàn nông thôn và trong lĩnh vực nông nghiệp, đó là khí hậu thời tiết dễ biến đổi, gây thiên tai, mất mùa, lợi nhuận từ nông nghiệp thấp, nhu cầu tiêu dùng của hộ gia đình nông thôn đa dạng, có sự tương đồng về điều kiện tự nhiên nên khó cạnh tranh về sản TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 xuất hàng hóa nông sản, không tạo ra giá trị gia tăng cách biệt, giá hàng hóa nông sản biến động thất thường, người vay có nhiều khả năng không thể trả được nợ. Một bộ phận lớn cư dân ở nông thôn không có tài sản thế chấp hoặc giá trị tài sản không đáng kể, chủ yếu là đất sản xuất nông nghiệp có giá trị thấp, khó thanh khoản, quyền sử dụng đất chưa toàn vẹn, khả năng thu hồi nợ kém do hệ thống pháp lý còn nhiều yếu kém. Hệ quả là các ngân hàng thương mại không muốn cho vay khu vực nông nghiệp, nông thôn, hoặc cho vay tập trung đối với các nông trại có quy mô lớn, bỏ qua nông trại nhỏ và gia trại, hộ cá thể nhỏ lẻ do nguy cơ phát sinh chi phí giao dịch cao và không đảm bảo khả năng chi trả hoặc phát sinh nợ khó đòi.
Từ đó việc hình thành một hệ thống thị trường không chính thức bắt đầu phát triển để đáp ứng nhu cầu của cư dân nông thôn, vẫn bảo đảm được khả năng thu hồi nợ và hiệu quả hoạt động tín dụng do chi phí giao dịch thấp (trên cơ sở niềm tin, ít thủ tục hành chính, giấy tờ, nên giảm chi phí), quay vòng vốn nhanh (thời gian vay nợ linh hoạt) nhưng với lãi suất cao hơn so với lãi suất của ngân hàng thương mại. Các lý thuyết kinh tế về thông tin bất cân xứng và tín dụng nông thôn 2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng và ứng dụng trong lĩnh vực tín dụng. Thông tin bất cân xứng là tình trạng trong một giao dịch có một bên có thông tin đầy đủ hơn và tốt hơn so với bên còn lại.
Tình trạng thông tin bất cân xứng hiện diện rất nhiều trong các lĩnh vực như Ngân hàng, thị trường nhà đất, thị trường lao động, lĩnh vực thể thao, thị trường hàng hóa, thị trường bảo hiểm, lĩnh vực đầu tư, thị trường chứng khoán, thị trường đồ cũ,…. Thông tin bất cân xứng là một thất bại của thị trường vì nó gây ra sự lựa chọn ngược (lựa chọn bất lợi) (adverse selection– AS). Đối với thị trường tín dụng, do tình trạng thông tin không cân xứng (asymmetric information), nếu ngân hàng đối phó với nhu cầu vay vượt khả năng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 cho vay bằng cách tăng lãi suất (giá của khoản vay) để làm giảm nhu cầu vay, thì có thể bị thiệt vì gặp phải vấn nạn “lựa chọn bất lợi” (adverse selection) và “rủi ro đạo đức” (moral hazard) (Đặng Văn Thanh, 2011). Lựa chọn bất lợi xảy ra vì ngân hàng không thể hiểu khách hàng bằng chính khách hàng (thông tin không cân xứng) cho nên nếu ngân hàng tăng lãi vay để hạn chế nhu cầu vay thì khách hàng tốt sẽ không vay; nhưng khách hàng xấu vẫn sẽ cố vay cho bằng được vì họ biết rằng nếu có vay được chỗ khác (ví dụ vay chợ đen) thì lãi suất rất cao, thậm chí không vay được.
Như vậy, khi tăng lãi suất để hạn chế nhu cầu vay của khách hàng thì ngân hàng có khả năng tích lũy khách hàng xấu và đuổi khách hàng tốt. Lựa chọn ngược là hậu quả của thông tin bất cân xứng trước khi giao dịch xảy ra. Rủi ro đạo đức (hay tâm lý ỷ lại) (moral hazard – MH) là tình trạng cá nhân hay tổ chức không còn động cơ để cố gắng hay hành động một cách hợp lý như trước khi giao dịch xảy ra. Rủi ro đạo đức cũng có nguồn gốc từ thông tin không cân xứng.
Vì ngân hàng không thể nắm rõ hoạt động kinh doanh của khách hàng bằng chính bản thân họ, cho nên sau khi vay xong, nếu lãi suất cao hơn lãi suất họ muốn, khách hàng có thể thay đổi mục đích sử dụng tiền vay để tăng thêm lợi nhuận nhằm bù cho phần lãi suất cao hơn đó. Mục đích sử dụng tiền vay có lợi nhuận cao hơn như thế thường có rủi ro cao hơn cho nên làm cho khả năng trả nợ của khách hàng cũng bị ảnh hưởng xấu. Tâm lý ỷ lại là hậu quả của thông tin bất cân xứng sau khi giao dịch đã xảy ra (Đặng Văn Thanh, 2011). Vấn đề người ủy quyền-người thừa hành (principal - agent – PA).
Mối quan hệ ủy quyền - thừa hành: phát sinh giữa hai bên, trong đó một bên được chỉ định làm người thừa hành, hành vi này thay mặt hoặc đại diện cho người ủy quyền trong một lĩnh vực cụ thể để ra quyết định (Ross, 1973). Không phải lúc nào người thừa hành cũng hành xử vì lợi ích cao nhất của người ủy quyền vì mỗi cá nhân luôn tối đa hóa lợi ích của mình. Do dó, những mâu thuẫn về lợi ích này sẽ gây ra mất mát sau cùng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 cho người ủy quyền (Jensen và Meckling, 1976). Ðối với ngân hàng thương mại, trục trặc từ mối quan hệ ủy quyền - thừa hành đó là người thừa hành (Giám đốc chi nhánh) có thể đi ngược lại quyền lợi của người ủy quyền (các cổ đông, Hội đồng quản trị) vì lợi ích cá nhân (Đặng Văn Thanh, 2011).
Nghiên cứu của (Ahmad và d.g, 2007; trích bởi Nguyễn Văn Hoàng, 2013) về các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại tại các nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển chỉ ra một trong những nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng đến từ chất lượng quản lý bao gồm giám sát và kỷ luật của các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, các nhà lãnh đạo ngân hàng thương mại nhà nước cũng như tư nhân nếu không được đào tạo tốt sẽ có xu hướng sử dụng các kỹ năng hiện có (Malekey và Taussig, 2008; trích bởi Nguyễn Văn Hoàng, 2013). Do đó, trong thị trường tín dụng, lãi suất không phải lúc nào cũng có thể dùng để hạn chế nhu cầu vay của khách hàng. Cơ chế tín dụng áp dụng để khắc phục thông tin bất cân xứng Cơ chế cho vay sàng lọc (thanh lọc).
Cho vay trong bối cảnh các thông tin bất đối xứng, các nhà cung cấp tín dụng phải đối mặt với ba vấn đề chính: (1) làm thế nào để xác định người vay có rủi ro cao và đặt hạn chế tín dụng vào chúng (thanh lọc), (2) làm thế nào để thúc đẩy người vay sử dụng đúng mục đích khoản vay (ưu đãi, khuyến khích) và (3) thực thi chúng để trả nợ khi họ có khả năng (thi hành). Vì vậy, để giúp đỡ những người cho vay tín dụng giải quyết những vấn đề này, hai cơ chế sàng lọc (thanh lọc) gián tiếp và trực tiếp được áp dụng thường xuyên.