CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG 1 NGÂN HÀNG 5 1. Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 10 1. Sơ lược về tín dụng ngân hàng 11 1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng.
23 Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay theo nguyên tắc có hoàn trả và có lãi suất. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. 24 Căn cứ theo khoản 01 Điều 03 của Quy chế cho vay của Tổ chức Tín dụng đối với khách hàng (QĐ 1627) “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.” 25 Căn cứ theo Điều 20 của Luật các tổ chức tín dụng thì “Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, vốn huy động để cấp tín dụng” 26 Căn cứ theo Điều 49 của Luật này về “Cấp tín dụng” thì TCTD được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN. Bản chất của tín dụng ngân hàng 27 Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các đặc trưng sau: - 28 Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
- 29 Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. - 30 Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 - 31 Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. Phân loại hoạt động tín dụng Dựa vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các 32 loại sau: - 33 Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp.
- 34 Cho vay tiêu dùng cá nhân. - 35 Cho vay mua bán bất động sản. - 36 Cho vay sản xuất nông nghiệp. - 37 Cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu… Dựa vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các 38 loại sau: - 39 Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn đến 1 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu động. - 40 Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 1 đến 5 năm. Mục đích của loại cho vay này là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định. - 41 Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm.
Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án đầu tư. Dựa vào mức độ tín nhiệm của khách hàng, hoạt động tín dụng phân 42 chia như sau: - 43 Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cho vay. - 44 Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng phân chia thành các 45 loại sau: - 46 Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - 47 Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. - 48 Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà TCTD thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng. Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các 49 loại sau: - 50 Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng. - 51 Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: chiết khấu thương mại; bao thanh toán.
Chất lượng tín dụng 52 Khái niệm chất lượng tín dụng là một phạm trù rộng, bao hàm nhiều nội dung, trong đó có nội dung quan trọng thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ. Do vậy trong một số trường hợp khi nói đến chất lượng tín dụng theo nghĩa hẹp người ta có thể chỉ nêu lên tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ; nếu tỷ lệ nợ này càng cao có nghĩa chất lượng tín dụng đang thay đổi theo chiều hướng không tốt và ngược lại. 53 Theo thông lệ quốc tế, nếu tỷ lệ nợ quá hạn dưới 5% tổng dư nợ hàng năm - trong đó tỷ lệ nợ khó đòi trong tổng số nợ quá hạn thấp - thì được coi là tín dụng có chất lượng tốt, trên mức này là ngân hàng đang gặp vấn đề và có thể phát sinh rủi ro tín dụng. Khái niệm và phân loại rủi ro tín dụng 1.
Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 54 Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. 55 Như vậy, có thể nói rằng RRTD có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng vay nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng.
Phân loại rủi ro tín dụng 56 Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD phân chia thành các loại sau: 57 Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. • 58 Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. • 59 Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
• 60 Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. 61 Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 • 62 Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế, nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. • 63 Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM Rủi ro tín dụng xảy ra trong hoạt động kinh doanh của NHTM có thể nảy sinh từ những đặc điểm nội tại của hoạt động kinh doanh ngân hàng song cũng có thể chịu ảnh hưởng từ những điều kiện và môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội. Trên cơ sở đó, các chuyên gia tài chính ngân hàng đã phân chia nguyên nhân rủi ro tín dụng thành 3 nhóm như sau: 1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan 64 Sự biến động quá nhanh của nền kinh tế thế giới: Nền kinh tế Việt Nam chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phụ trợ như: nuôi trồng, chế biến thực phẩm, may gia công… vốn nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới có biến động xấu. 65 Rủi ro do quy luật khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường mở: Những năm gần đây Việt Nam áp dụng chính sách ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài, khuyến khích họ hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam.