CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các vấn đề lý thuyết về rủi ro tín dụng 1. Khái niệm về rủi ro tín dụng Căn cứ Khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2023/TT-NHNN quy định rủi ro tín dụng là “Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng phi ngân hàng”. Theo nghiên cứu của Accornero và cộng sự (2018), khi những người vay của ngành ngân hàng mặc định không thể đáp ứng nghĩa vụ nợ đúng hạn, nó được gọi là rủi ro tín dụng.
Và nếu ngân hàng không có phương án quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả sẽ dẫn đến khủng hoảng ngân hàng hoặc thậm chí là dẫn đến khủng hoảng tài chính. Cũng quan điểm đó, Berger và DeYoung (1997) cho rằng khi có một lượng lớn khách hàng không thể thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn, nó sẽ đem lại ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của ngành ngân hàng. Siddique và các cộng sự (2020) đã chỉ ra rằng “Rủi ro tín dụng liên quan đến việc bất cân xứng thông tin về nợ xấu. Việc chênh lệch thông tin về mức độ nợ xấu sẽ có thể dẫn đến sự phá sản của ngân hàng và sự sụp đổ của ngành tài chính.” Rủi ro tín dụng cũng có thể được hiểu là khi một nhóm khách hàng quan trọng trì hoãn việc trả nợ dẫn tới một khoản tổn thất rất lớn và do đó có thể dẫn đến tình trạng mất thanh khoản của ngân hàng (Bessis, 2002).
“Rủi ro tín dụng là khả năng người vay không thực hiện, hay thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Đây được xem như là tổn thất kinh tế do bên đối tác không thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng tín dụng được ký kết giữa các bên” (Jorion, 2009) Đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra định nghĩa của RRTD, nhưng có thể hiểu Nguyễn Thị Huyền My 10 2024 khái quát về rủi ro tín dụng như sau: RRTD trong ngân hàng được định nghĩa là khả năng mà một người vay không thể hoàn thành nghĩa vụ tài chính của mình đối với ngân hàng, dẫn đến nguy cơ mất mát hoặc thiếu hụt thu nhập và vốn dự kiến từ khoản vay đó. Rủi ro này bao gồm việc trả nợ muộn, trả không đủ số tiền vay hoặc không trả nợ. Điều này có thể dẫn đến sự phá sản của các ngân hàng hoặc thậm chí sự sụp đổ của cả nền tài chính.
Phân loại rủi ro tín dụng ● Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch là một hình thức rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn: là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro đảm bảo: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo - Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề. ● Rủi ro danh mục Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
- Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó Nguyễn Thị Huyền My 11 2024 xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. - Rủi ro tập trung: là rủi ro khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. ● Rủi ro tác nghiệp Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.
Rủi ro tín dụng không chỉ phản ánh khả năng và ý thức trả nợ của người vay mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan như tình hình kinh tế vĩ mô, thay đổi trong chính sách tài chính hoặc bất ổn trong thị trường tài chính. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Theo Huỳnh Thị Phi Yến (2017) có ba nguyên nhân chính dẫn đến RRTD, yếu tố đến từ nền kinh tế, yếu tố từ chính nội tại ngân hàng và yếu tố từ khách hàng. Trong đó, tỷ lệ vốn chủ sở hữu của ngân hàng cũng là một trong các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến RRTD của ngân hàng. Theo Ghosh (2012), “có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, bao gồm nguyên nhân bên ngoài và bên trong ngân hàng.
Các nguyên nhân phổ biến từ phía NHTM có thể kể đến như: quyết định tín dụng quá dễ dàng, quản trị tín dụng kém hiệu quả, những sự kiện bất ngờ không lường trước được và sự ngoan cố không trả nợ xuất phát từ phía khách hàng. Các yếu tố bên ngoài bắt nguồn từ sự suy yếu của kinh tế vĩ mô, tình trạng xấu đi của các điều kiện kinh tế và sự phát triển kém của thị trường bên ngoài. Mối quan hệ nghịch chiều từ điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến người đi vay, khi nó làm suy giảm nguồn thu nhập và tăng khả năng không trả được nợ của họ. Các yếu tố bên ngoài như sự thay đổi của chính sách tài khóa, cung tiền, chính sách xuất nhập khẩu, chính sách hạn chế thương Nguyễn Thị Huyền My 12 2024 mại hoặc sự biến đổi của thị trường tài chính cũng sẽ ảnh hưởng đến danh mục tín dụng của ngân hàng” “Những yếu tố nội bộ từ phía người đi vay và việc kinh doanh của họ là những yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Các yếu tố như rủi ro kinh doanh, quản trị tài chính, hạn chế về quy trình kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, quản lý hàng tồn kho kém là một trong những yếu tố phổ biến làm suy giảm hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm, làm suy giảm trong thu nhập của người đi vay, tăng xác suất vỡ nợ. Bên cạnh đó, sự thiếu trung thực, thái độ phi đạo đức của người đi vay cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng. Như vậy, nguyên nhân từ các yếu tố bên ngoài hoặc bên trong, từ phía người đi vay có tác động đến rủi ro tín dụng. Ngoài ra, các nguyên nhân như hiệu quả của hệ thống pháp luật, môi trường kinh tế, chính trị ảnh hưởng đến việc cấp tín dụng” (Ghosh, 2012) Nhìn chung, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại ngân hàng, chính vì điều đó ngân hàng phải đẩy mạnh công tác phân tích, đo lường để đề phòng triệt để nguy cơ dẫn đến rủi ro tín dụng, từ đó đảm bảo sự an toàn cho ngân hàng.
Các chỉ tiêu đánh giá về rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một vấn đề có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế, chính vì thế mỗi ngân hàng đều có rất nhiều tiêu chí để đánh giá về nợ xấu, từ đó đưa ra biện pháp để hạn chế tối đa rủi ro cho ngân hàng. Điển hình, có ba tiêu chí thường được các ngân hàng sử dụng đó là: Tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ bao phủ nợ xấu. ● Tỷ lệ nợ xấu Căn cứ theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Nợ xấu có là các khoản nợ khó đòi, và khi đến hạn phải thanh toán người vay không thể trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng.
Và thời gian quá hạn thanh toán trên 3 tháng (90 ngày) thì bị coi là nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu phản ánh mức độ tiềm tàng rủi ro tín dụng mà ngân hàng phải đối mặt và được dùng như một chỉ báo quan trọng trong quản lý rủi ro và đánh giá sức khỏe tài chính của ngân hàng. Nguyễn Thị Huyền My 13 2024 Công thức xác định tỷ lệ nợ xấu: 𝑁ợ 𝑥ấ𝑢 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 3 + 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 4 + 𝑁ợ 𝑛ℎó𝑚 5 Tỷ lệ nợ xấu = × 100% = × 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑ư 𝑛ợ 𝑐ℎ𝑜 𝑣𝑎𝑦 100% Trong đó: Tổng dư nợ cho vay là tổng số dư nợ mà ngân hàng đã cho vay, không kể đến việc có sinh lời hay không. Tổng nợ xấu là tổng số tiền của các khoản vay mà khách hàng không trả lãi hoặc gốc đúng hạn, thường được xác định là các khoản vay không sinh lời hoặc quá hạn từ 90 ngày trở lên.
Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn ) là nhóm nợ đã chậm thanh toán khoản nợ từ 91 ngày đến 180 ngày, và khoản nợ của nhóm này đã được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ nhưng khoản nợ được gia hạn lần đầu vẫn còn trong hạn. Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận trừ các khoản nợ thuộc phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn. Nợ trong thời gian thu hồi theo quyết định hoặc phải thu hồi trước hạn, nợ bị phân vào nhóm 3… mà chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ ) là nhóm nợ có độ tín nhiệm rất thấp khi quá hạn từ 181 đến 360 ngày.