Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do thực hiện đề tài; mục tiêu và vấn đề nghiên cứu; đối tượng và phạm vi nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; khung phân tích của Luận văn; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài; kết cấu của Luận văn. Chương 2: Tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại. Trong chương này, tác giả trình bày khung lý thuyết về khả năng sinh lợi 123doc 10 và các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của ngân hàng, cũng như đưa ra các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới về sự tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lợi của ngân hàng, từ đó làm cơ sở để tác giả thực hiện bài nghiên cứu của tác giả tại Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại các NHTMCP Việt Nam. Trong chương này, bằng phương pháp định tính tác giả phân tích thực trạng về khả năng sinh lợi và các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014. Chương 4: Mô hình nghiên cứu và kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để kiểm định các nhân tố tác động đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2014.
Theo đó, tác giả sẽ làm rõ nguồn dữ liệu thu thập, mô hình hồi qui, phương pháp nghiên cứu và thảo luận kết quả kiểm định tác động của các nhân tố đến khả năng sinh lợi của các NHTMCP Việt Nam. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị. Trong chương này, tác giả trình bày tóm tắt kết quả của đề tài nghiên cứu, đồng thời đưa ra các gợi ý khuyến nghị cho các NHTMCP Việt Nam và cho các nhà hoạch định chính sách trong việc gia tăng khả năng sinh lợi cho các NHTMCP Việt Nam. Cuối cùng, tác giả nêu lên những hạn chế của đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.
123doc 11 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại Luật các tổ chức tín dụng ban hành ngày 16/6/2010 có định nghĩa NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo qui định Luật này nhằm mục tiêu sinh lợi. Các NHTM thực hiện kinh doanh trên nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo nguồn thu, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí, rủi ro phát sinh và quản lý thận trọng danh mục đầu tư nhằm đạt được tỷ suất sinh lợi như kỳ vọng của cổ đông và các nhà quản trị mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản trước các cú sốc kinh tế, sự bất ổn của thị trường ngành ngân hàng trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Khả năng sinh lợi của ngân hàng có thể được hiểu chính là năng lực tạo ra lợi nhuận của ngân hàng và được thể hiện qua chỉ tiêu tỷ suất sinh lợi, một thước đo dùng đo lường mức độ thành công của ngân hàng trong việc sử dụng nguồn tài trợ để tạo ra lãi ròng, đồng thời cũng là thước đo về khả năng thanh toán nợ của ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi phản ánh mức độ hiệu quả trong hoạt động kinh doanh cũng như triển vọng phát triển của ngân hàng trong tương lai.
Khi phân tích tỷ suất sinh lợi của ngân hàng cần kết hợp xem xét đến các mục tiêu chiến lược khác như kế hoạch mở rộng mạng lưới, gia tăng thị phần, đảm bảo khả năng thanh khoản, mức độ chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản,… Để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng, cần xem xét mức lãi ròng đạt được sau một kỳ hoạt động trong mối tương quan với nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản và khả năng bù đắp chi phí cho những thất thoát xảy ra. Hai chỉ tiêu đo lường khả năng sinh lợi thường được các chuyên gia kinh tế trên thế giới sử dụng là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE). Ngoài ra, vì hoạt động đặc trưng 123doc 12 của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ và thị giá cổ phiếu ngân hàng cũng chịu sự tác động của các cú sốc kinh tế hay các cơn khủng hoảng ngành ngân hàng, một vài chỉ tiêu đặc thù cũng được sử dụng để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng dù không phổ biến là tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM),4 chênh lệch lãi suất bình quân,… (Trương Quang Thông, 2012).2 Các thước đo đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng 2.1 Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) Theo Trương Quang Thông (2012), tỷ suất sinh lợi trên tài sản thể hiện mức độ tương quan giữa khả năng tạo ra lợi nhuận và tổng tài sản của ngân hàng, được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi của tài sản ngân hàng, cụ thể là đo lường mức sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Nghĩa là, bình quân cứ một đồng tài sản thì ngân hàng có thể tạo ra bao nhiêu đồng lãi ròng thông qua hoạt động kinh doanh.
Khả năng sinh lợi theo tài sản được xác định bằng công thức: ã ò ROA(%) = ổ à ả ROA là thước đo thích hợp cho tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện năng lực chuyển đổi từ tài sản thành lãi ròng của ngân hàng và được dùng để đánh giá khả năng sinh lợi mà không quan tâm đến cấu trúc tài chính của ngân hàng. Nghiên cứu của Holden và El-Banany (2004) với các ngân hàng ở vương quốc Anh, Syafri (2012) với các ngân hàng ở Indonesia, Abuzar (2013) với các ngân hàng Hồi giáo ở Sudan và Trujillo-Ponce (2013) với 89 ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1999 – 2009 đã sử dụng hệ số ROA để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số ROA chịu tác động bởi nhiều nhân tố như qui mô ngân hàng, qui mô tiền 4 Xem Phụ lục 14, mục 1. 123doc 13 gửi khách hàng, khả năng thanh khoản, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, mức độ tăng trưởng kinh tế, mức tăng cung tiền và tỷ lệ lạm phát.
Bên cạnh các nghiên cứu quốc tế, một số chuyên gia kinh tế Việt Nam cũng sử dụng hệ số ROA trong nghiên cứu thực nghiệm về khả năng sinh lợi của các NHTM Việt Nam (Phan Thị Hằng Nga, 2011; Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh, 2015).2 Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu là chỉ số quan trọng nhất đối với các cổ đông của ngân hàng, dùng để đo lường khả năng sinh lợi tính trên mỗi đồng vốn mà chủ sở hữu bỏ ra. Chỉ tiêu ROE được xác định bằng lãi ròng chia cho tổng vốn chủ sở hữu bình quân (bao gồm vốn cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá, các quỹ dự trữ và lợi nhuận giữ lại) qua công thức sau: ã ò ROE(%) = ổ ố ủ ở ữ Bên cạnh việc dùng đo lường khả năng sinh lợi theo vốn chủ sở hữu, thông số ROE còn thể hiện sức mạnh tài chính của một ngân hàng, cụ thể: - Tỷ lệ ROE thấp sẽ giảm sức hấp dẫn của cổ phiếu ngân hàng trước các nhà đầu tư, dẫn đến khó thu hút nguồn vốn mới cho việc phát triển kinh doanh và mở rộng thị trường. - Tỷ lệ ROE thấp làm giảm khả năng tăng vốn chủ sở hữu cho ngân hàng qua việc tích lũy lợi nhuận giữ lại. Từ đó hạn chế khả năng tăng trưởng tài sản gắn liền tăng vốn chủ sở hữu ngân hàng theo qui định của pháp luật.
- Tỷ lệ ROE càng cao chứng tỏ ngân hàng đã sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của cổ đông, cân đối hài hòa cấu trúc tài chính giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong phát triển kinh doanh và mở rộng qui mô. Do vậy, cổ phiếu của các ngân hàng có tỷ lệ ROE càng cao thì càng hấp dẫn và là mục tiêu chủ yếu cho các nhà đầu tư chiến lược (Trương Quang 123doc 14 Thông, 2012). Mối tương quan giữa tỷ suất sinh lợi trrên tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng: ổ à ả ROE = ROA * ổ ố ủ ở ữ Từ mối quan hệ giữa ROE và ROA có thể thấy rằng chỉ số ROE rất nhạy cảm với phương thức tài trợ tài sản (sử dụng nhiều vốn chủ sở hữu hơn hay sử dụng nhiều nợ hơn). Do đó, các cổ đông cần sáng suốt khi quyết định đầu tư dựa vào chỉ số ROE của ngân hàng vì các nhà quản trị ngân hàng có thể dễ dàng cải thiện chỉ số ROE qua việc gia tăng tỷ lệ sử dụng nợ (bao gồm tiền gửi của khách hàng) so với vốn chủ sở hữu trong quá trình tài trợ tài sản.
Nghiên cứu của Zeitun (2012) tại các nước khu vực vùng Vịnh, Abuzar (2013) hay Trujillo-Ponce (2013) sử dụng tỷ lệ ROE để đo lường khả năng sinh lợi của ngân hàng và phát hiện tỷ lệ ROE chịu tác động từ những nhân tố như qui mô tiền gửi khách hàng, nguồn vốn chủ sở hữu, tổng tài sản của ngân hàng, hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông qua chỉ tiêu tỷ lệ chi phí trên thu nhập hoạt động,… Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga (2011), Nguyễn Thị Cành và Hồ Thị Hồng Minh (2015) cũng đã dùng hệ số ROE như một thước đo cho khả năng sinh lợi của ngân hàng. Tuy nhiên, các mô hình nghiên cứu sử dụng ROE làm biến phụ thuộc có mức độ giải thích của các biến độc lập thấp hơn so với mô hình có ROA là biến phụ thuộc. Có thể giải thích điều này là do các ngân hàng thường tận dụng triệt để đòn bẩy tài chính trong việc huy động vốn phục vụ hoạt động kinh doanh tiền tệ nhằm sinh lợi và tài sản ngân hàng được hình thành chủ yếu từ nguồn vốn chủ sở hữu và vốn huy động từ khách hàng; do đó, khi cơ cấu nguồn vốn huy động trong tổng tài sản càng lớn đồng nghĩa tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản càng nhỏ, dẫn đến chỉ số ROE sẽ được tăng cường dù rằng ngân hàng có thể gánh chịu rủi ro thanh khoản tiềm ẩn trong tương lai.