CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Tín dụng ngân hàng 1.1 Khái niệm Có rất nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng nhưng tựu trung lại, tín dụng có nghĩa như sau: tín dụng được coi là mối quan hệ vay mượn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay trong điều kiện có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định [Nguyễn Minh Kiều (2010), Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng, trang 122]. Hay nói một cách khác tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế mà trong đó mỗi cá nhân hay một tổ chức nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hoặc hiện vật cho một cá nhân hay một tổ chức khác với những ràng buộc nhất định về thời gian hoàn trả, lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng bằng tiền tệ mà một bên là ngân hàng (một tổ chức chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ) với một bên là tất cả các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần đã tạo ra động lực lớn, đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, tăng cường thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, đem lại sự phồn vinh cho nền kinh tế cho nước ta trong những năm qua. Và để đạt được những kết quả như vậy thì phải kể đến một nhân tố góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước đó chính là tín dụng ngân hàng. Khác so với tín dụng trước đây, trong thời kỳ bao cấp tín dụng được coi như là một công cụ cấp phát thay ngân sách, vì lẽ đó mà đã xảy ra tình trạng có nơi cần vốn sản xuất thì không có hoặc không kịp thời để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong khi đó vẫn có nơi lại có một lượng vốn ứ đọng tương đối lớn trong xã hội. Ngày nay khi chúng ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước thì tín dụng ngân hàng được sử dụng như một đòn bẩy kinh tế, điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu một cách hiệu quả, giúp cho nền kinh tế ngày một phát triển.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Phân loại Để tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu và đưa ra các hình thức tín dụng khác nhau để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của quá trình tái sản xuất, từ đó đa dạng hóa danh mục đầu tư để mở rộng tín dụng, tăng lợi nhuận, thực hiện phân tán rủi ro và thu hút khách hàng. Việc phân loại tín dụng có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tùy theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lí của ngân hàng. Sau đây là một số cách phân loại: 1.1 Căn cứ vào thời hạn cấp tín dụng, các hình thức tín dụng gồm có: Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (1 năm).
Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân, hộ gia đình và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân, hộ gia đình … Tín dụng trung hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng (5 năm). Mục đích là vay vốn để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định hoặc cải tiến kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất, đổi mới quy trình công nghệ và xây dựng mới những công trình loại nhỏ, thời hạn thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: là những khoản tín dụng có thời hạn từ 60 tháng trở lên. Mục đích sử dụng là để sửa chữa, khôi phục, thay thế tài sản cố định, đổi mới công nghệ và xây dựng mới đối với những công trình mới.
thời hạn thu hồi vốn lâu. Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng, năm) và ghi trong hợp đồng tín dụng. Tuy nhiên việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay không xác định trước được chính xác thời hạn. Phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với khách hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
[Nguyễn Minh Kiều (2011), Giáo trình tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng, trang 68] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Căn cứ vào phương thức tài trợ: Cho vay: là một hình thức cấp tín dụng, theo đó các TCTD giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền vào mục đích hợp pháp của khách hàng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hình thức truyền thống và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tất cả các hình thức cấp tín dụng. Chiết khấu: là việc TCTD mua giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán của khách hàng. Thuê tài chính: là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê.
Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê. Bảo lãnh Ngân hàng: là cam kết bằng văn bản của TCTD (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD số tiền đã được trả thay.3 Căn cứ vào tính chất bảo đảm của khoản vay: Tín dụng có tài sản thế chấp: Ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, trong đó: - Tín dụng cầm cố là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản khách hàng mang đến cầm cố tại ngân hàng. Tài sản của khách hàng do ngân hàng bảo quản, trong suốt thời gian cầm cố khách hàng không được sử dụng nhượng bán, cho thuê.
- Tín dụng thế chấp là việc ngân hàng căn cứ vào tài sản của khách hàng để đảm bảo cho khả năng trả nợ của khách hàng, mà không thực hiện chuyển giao tài sản cho Ngân hàng, khách hàng có quyền sử dụng nhưng không có quyền bán và cho thuê. Tín dụng không có tài sản thế chấp (Tín chấp): Ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở tin tưởng khách hàng, tài sản thế chấp là uy tín, danh dự của khách hàng. Ngoài ra còn có TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 hình thức cấp tín dụng thông qua việc bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn như Hội nông dân Việt Nam, Hội Phụ nữ Việt Nam. Trong thời gian qua, các NHTM Việt Nam chỉ áp dụng một vài loại tài sản bảo đảm, trong đó chủ yếu là nhà ở và quyền sử dụng đất.
Vì vậy, đôi lúc diễn đạt về bảo đảm tín dụng người ta thường dùng từ thế chấp tài sản. Trong nền kinh tế thị trường, để đạt được mục tiêu phát triển là mở rộng tín dụng gắn với hạn chế rủi ro đòi hỏi ngân hàng phải sử dụng đồng thời nhiều loại tài sản bảo đảm và hình thức bảo đảm; vận dụng nó thích ứng với điều kiện của mỗi một khách hàng.4 Căn cứ vào rủi ro, tín dụng được chia thành: Nợ tiêu chuẩn hay còn gọi là nợ nhóm 1: là các khoản nợ có thời gian ≤ 10 ngày. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn Nợ cần chú ý hay còn gọi là nợ nhóm 2: là các khoản nợ > 10 ngày và ≤ 90 ngày. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Nợ dưới tiêu chuẩn hay còn gọi là nợ nhóm 3: là các khoản nợ > 90 ngày và ≤ 180 ngày.
Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. Nợ nghi ngờ hay còn gọi là nợ nhóm 4: là các khoản nợ > 180 ngày và ≤ 360 ngày. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao.
Nợ có khả năng mất vốn hay còn gọi là nợ nhóm 5: là các khoản nợ > 360 ngày. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là không thể thu hồi và có khả năng mất vốn. Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lượng tín dụng của một tổ chức tín dụng.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.5 Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tín dụng bất động sản: là loại tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây dựng bất động sản nhà ở đất đai, bất động sản trong lĩnh vực thương mại dịch vụ. Tín dụng công nghiệp và thương mại: là loại tín dụng ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệp, thương mại, dịch vụ. Tín dụng nông nghiệp: là loại tín dụng để trang trải các chi phí sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động. Tín dụng tiêu dùng cá nhân: là loại tín dụng để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền.
Ngày nay ngân hàng còn thực hiện cho vay để trang trải chi phí thông thường của đời sống thông qua phát hành thẻ tín dụng. Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng, chuyên môn hóa trong cấp tín dụng của ngân hàng. Với xu hướng ngày càng đa dạng hóa, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế.