Chương 1: Tổng quan về nợ xấu và những nhân tố tác động đến nợ xấu tại Ngân hàng Thƣơng mại. Chương 2: Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Đồng Nai. Chương 3: Giải pháp nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Đồng nai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về nợ xấu 1.1 Khái niệm nợ xấu 1.1 Quan điểm thế giới (i) Trƣớc tiên là quan điểm nợ xấu của NHTW Châu Âu (ECB) cho rằng: “Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi hoặc là những khoản cho vay có thể không thanh toán đầy đủ cho ngân hàng”.
Với quan điểm này nợ xấu đƣợc xác định dựa trên kết quả trả nợ cuối cùng của khách hàng đối với ngân hàng. (i) Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi nhƣ: những khoản nợ đã hết hạn hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thƣờng từ ngƣời mắc nợ, ngƣời mắc nợ bỏ trốn hoặc mất tích mà không còn tài sản để thanh toán nợ, khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc đƣợc với ngƣời mắc nợ hoặc không thể tìm thấy ngƣời mắc nợ, những khoản nợ mà khách hàng chấm dứt hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản, hoặc kinh doanh bị thua lỗ và tài sản còn lại không đủ để trả nợ. (ii) Nợ xấu là những khoản cho vay có thể không đƣợc thu hồi đầy đủ cho Ngân hàng là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ để trả nợ. Tức là, ngân hàng không thể thu hồi đầy đủ món nợ vì ngƣời mắc nợ rất khó kiếm đƣợc lợi nhuận từ việc kinh doanh hoặc ngƣời mắc nợ không liên lạc với ngân hàng để thanh toán hoặc hoàn cảnh chỉ rõ rằng phần lớn tiền nợ sẽ không thể thu hồi đƣợc.
Những khoản nợ loại này gồm có: - Những khoản nợ mà ngƣời mắc nợ đồng ý thanh toán trong quá khứ, nhƣng phần còn lại không thể đƣợc đền bù, hoặc những khoản nợ trong đó tài sản đƣợc chuyển để thanh toán nhƣng giá trị còn lại không đủ trang trải toàn bộ nợ. - Những khoản nợ mà ngƣời mắc nợ khó có thể trả nợ và yêu cầu gia hạn nợ nhƣng không đền bù đƣợc nợ trong thời gian thỏa thuận. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 - Những khoản nợ mà tài sản thế chấp không đủ để trả nợ hoặc tài sản thế chấp ở Ngân hàng không đƣợc chấp thuận về mặt pháp lý dẫn đến Ngân hàng không thể thu hồi nợ đầy đủ từ ngƣời mắc nợ. - Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố ngƣời mắc nợ phá sản nhƣng phần bồi hoàn ít hơn dƣ nợ.
(ii) Theo phòng thống kê của Liên hợp quốc(AEG): thống nhất định nghĩa “ về cơ bản, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ”. Nói cách khác, nợ xấu đƣợc xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; và (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc các khoản vay thay thế” (IMF’s Compilation on Financial Soundess Indicators,2004). Nợ xấu theo quan điểm của IMF đƣợc định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Nhƣ vậy, IMF tiếp cận nợ xấu dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả đƣợc nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng không đầy đủ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 (iv) Theo quan điểm của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, trong đó các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”. Nhƣ vậy, Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS) không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: (i) ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để gắng thu hồi ví dụ nhƣ giải chấp chứng khoán(nếu đang nắm giữ); (ii) ngƣời vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Trong phƣơng pháp đo lƣờng rủi ro định lƣợng, theo các điều khoản của hiệp ƣớc Basel, các NHTM đƣợc chấp thuận sử dụng phƣơng pháp dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản (Foundation Internal Ratings Based – F-IRB) để đánh giá và đo lƣờng RRTD. Các ngân hàng sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng. Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ƣớc tính đƣợc tính toán dựa trên công thức nhƣ sau: EL = PD x EAD x LGD (trong đó: PD – probability of default: xác suất khách hàng không trả đƣợc nợ, LGD – Loss given default – tỷ trọng tổn thất ƣớc tính, EAD – Exposure at default – tổng dƣ nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả đƣợc nợ, EL – Expected loss – tổn thất có thể ƣớc tính).
Ngoài phƣơng pháp xếp hạng nội bộ cơ bản (F-IRB), Basel II còn cho phép các ngân hàng áp dụng phƣơng pháp dựa trên xếp hạng nội bộ nâng cao(Adanced Internal Ratings Based: A-IRB) để đo lƣờng rủi ro tín dụng. Trong phƣơng pháp TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 này thì tỷ lệ tổn thất ƣớc tính (LGD) có thể phản ánh hiệu quả tác động giảm thiểu rủi ro của hoạt động bảo lãnh và các sản phẩm tín dụng phái sinh thông qua việc điều chỉnh xác suất khách hàng không trả đƣợc nợ (PD) hoặc LGD. LGD phải đƣợc tính theo tỷ lệ phần trăm phần thiệt hại do vỡ nợ so với tổng dƣ nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả đƣợc nợ (EAD). Nhƣ vậy, Ủy ban Basel đã cho phép các ngân hàng có hai sự lựa chọn: một là phƣơng pháp IRB cơ bản(F- IRB) và hai là phƣơng pháp IRB nâng cao(A-IRB).2 Quan điểm Việt Nam Theo thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 quy định về việc phân loại tài sản có, mức trích, phƣơng pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của TCTD, chi nhánh NHNNg thì nợ xấu đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3(Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4(Nợ nghi ngờ) và nhóm 5(Nợ có khả năng mất vốn)”.
Việc phân loại các nhóm nợ theo thông tƣ này nhƣ sau: Nợ nhóm 3 (Nợ dƣới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn dƣới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 3 theo quy định. Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ từ 90 ngày đến 180 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định. Nợ nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; - Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý; TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 - Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày theo thời hạn đã đƣợc cơ cấu lại; - Các khoản nợ khác đƣợc phân loại vào nhóm 4 theo quy định. Đồng thời tại điều 9 TT02/2013/TT-NHNN quy định nhƣ sau: - TCTD, chi nhánh NHNNg thực hiện việc phân loại nợ, cam kết ngoại bảng phải sử dụng kết quả phân loại nhóm nợ đối với KH do CIC cung cấp để điều chỉnh kết quả tự phân loại.
Nhƣ vậy, trƣờng hợp KH có quan hệ tín dụng với nhiều TCTD nhƣng có món nợ chuyển nhóm thì tất cả các khoản vay tại các TCTD khác cũng sẽ chuyển sang nhóm nợ cao nhất đƣợc phân loại tại CIC. - Đối với những khoản nợ đã bán, nhƣng chƣa thu đƣợc tiền, số dƣ nợ đã bán có quyền truy đòi ngƣời bán thì TCTD vẫn phải phân loại và trích lập dự phòng nhƣ trƣớc khi bán nợ. - Đối với các khoản nợ mà TCTD,chi nhánh NHNNg mua thì số tiền đã thanh toán cho việc mua khoản nợ đó, TCTD, NHNNg phải đƣa vào nhóm nợ có mức độ rủi ro không thấp hơn nhóm nợ mà khoản nợ đó đã đƣợc phân loại trƣớc khi mua. - Đối với các khoản nợ các khoản nợ quy định tại điểm c (iv) khoản 1 điều 10 của thông tƣ, về nguyên tắc,TCTD, chi nhánh NHNNg phải có quyết định thu hồi ngay phần dƣ nợ vi phạm, không đƣợc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, trong thời gian chƣa thu hồi đƣợc, TCTD phải thực hiện phân loại và trích lập dự phòng đầy đủ.
Việc phân loại nợ đƣợc quy định tại điều 10 và điều 11 tại TT02/TT-NHNN về cơ bản kế thừa QĐ 493 và QĐ 18. Nhƣng có bổ sung về việc phân loại theo định lƣợng nhƣ sau: các khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 điều 10 phải đƣợc phân loại ngay vào nhóm 3.