chương 1 đã làm rõ các nội dung tổng quan và khái quát nhất về đề tài như lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn của đề tài. Từ đó tác giả đi nghiên cứu sâu hơn về cơ sở lý thuyết của đề tài ở chương 2. 7 Giới thiệu chương 2 Trong chương này, tác giả đi giải quyết các vấn đề, nội dung như sau: lý thuyết cơ bản về hoạt động cho vay KHCN: khái niệm, phân loại, vai trò, các rủi ro trong hoạt động cho vay KHCN; cơ sở lý thuyết về khả năng trả nợ của KHCN và các nhân tố tác động đến hoạt động cho vay KHCN của Agribank chi nhánh Bình Thuận. Đồng thời, tác giả cũng lược khảo nội dung của một số công trình nghiên cứu trước đây có liên quan để làm nền tảng nghiên cứu và phát triển sâu hơn ở đề tài này.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 Tổng quan về cho vay khách hàng cá nhân 2.1 Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Theo khoản 01, Điều 02, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng, ta có: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Như vậy, cho vay khách hàng cá nhân là một trong các hình thức cấp tín dụng của NHTM, trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho đối tượng khách hàng là cá nhân với mục đích phục vụ nhu cầu tiêu dùng đời sống hoặc hoạt động kinh doanh trong một thời gian nhất định và có sự hoàn trả cả vốn gốc lẫn lãi theo thỏa thuận.2 Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Theo Trầm Thị Xuân Hương và Hoàng Thị Minh Ngọc (2013) có thể phân loại cho vay tại Ngân hàng thương mại theo những tiêu chí sau: a. Căn cứ vào phương thức cho vay: - Cho vay từng lần: Là một phương thức cho vay mà NHTM áp dụng chủ yếu đối với các cá nhân có mục đích sử dụng vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm bù đắp thiếu hụt nguồn tài chính tạm thời. NHTM căn cứ vào kế hoạch, phương án kinh doanh của từng trường hợp cụ thể để ra quyết định cho vay.
Đối với cho vay từng lần, đối tượng khách hàng thông thường là những cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ, có nguồn thu không ổn định và nhu cầu vay vốn không thường xuyên, hoặc những khách hàng chưa có tín nhiệm cao 9 đối với ngân hàng mà ngân hàng nhận thấy cần phải giám sát, kiểm tra, quản lý việc sử dụng vốn vay chặt chẽ, an toàn. - Cho vay trả góp: Là phương thức cho vay vốn khá phổ biến hiện nay thường được các NHTM áp dụng đối với các khoản vay vốn trung và dài hạn. Khoản cho vay được trả làm nhiều lần có các kỳ trả nợ gốc và lãi trùng nhau, số tiền gốc trả nợ của mỗi kỳ là bằng nhau và số tiền lãi hàng kỳ được tính dựa trên số dư nợ gốc ban đầu hoặc số ngày phát sinh thực tế của kỳ hạn trả nợ theo thỏa thuận giữa khách hàng và ngân hàng. Thông thường, kỳ hạn trả nợ của khoản vay là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm, tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng tài chính trả định kỳ của mỗi khách hàng.
- Cho vay theo hạn mức: Là một phương thức cho vay được các NHTM áp dụng đối với các đối tượng khách hàng có hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) có nguồn thu ổn định, có tín nhiệm cao, nhu cầu vốn thường xuyên và thời gian vay là ngắn hạn. Việc xác định hạn mức cho vay của mỗi khách hàng được các NHTM đánh giá dựa trên lĩnh vực hoạt động, năng lực kinh doanh và nhu cầu vốn của từng thời kỳ. - Cho vay hạn mức thấu chi: Là khoản vay ngắn hạn mà NHTM chấp thuận cho KH chi vượt một số tiền nhất định trong tài khoản thanh toán của KH, với một mức lãi suất cao hơn so với các khoản vay khác. Số tiền cho vay thấu chi thường tương đối thấp phục vụ mục đích tiêu dùng nhất thời của các cá nhân, tập trung vào các đối tượng khách hàng có nguồn thu nhập tốt, ổn định và có sự tín nhiệm cao đối với ngân hàng.
Ngoài ra, cho vay thấu chi còn được áp dụng cho các cá nhân có mục đích sử dụng vốn phục vụ hoạt động SXKD, tuy nhiên do tính chất lãi suất cao và khó kiểm soát trong việc sử dụng vốn của khách hàng nên hình thức vay này vẫn chưa được áp dụng phổ biến tại các NHTM. 10 - Cho vay qua phát hành thẻ tín dụng: Thẻ tín dụng là một dịch vụ thanh toán với những hạn mức chi tiêu nhất định mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng căn cứ vào khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp của khách hàng. Đây là hình thức tín dụng tuần hoàn giành cho việc thanh toán mà khách hàng có thể sử dụng cho mọi giao dịch một cách linh hoạt. Việc hoàn trả của khách hàng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần theo một thời hạn nhất định và theo hạn mức quy định bởi ngân hàng phát hành thẻ.
Căn cứ vào thời hạn cho vay: các NHTM xác định thời hạn của mỗi khoản vay dựa trên phương án vay, hình thức cho vay, khả năng tài chính và nhu cầu của mỗi khách hàng. Thông thường, thời hạn cho vay được phân chia thành các loại: - Cho vay ngắn hạn: Loại hình cho vay có thời hạn dưới 12 tháng và được sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động của cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh hay nhu cầu chi tiêu trong ngắn hạn. - Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn của khoản vay từ 12 đến dưới 60 tháng. - Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay mà thời hạn của khoản vay trên 60 tháng.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn - Cho vay tiêu dùng: Là khoản cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay đối với KHCN nhằm tài trợ nhu cầu trong việc mua sắm các trang thiết bị gia đình, ô tô, xây dựng hoặc cải tạo nhà/đất, chung cư và các nhu cầu cần thiết khác… Đặc điểm của khoản vay là lãi suất cao hơn so với cho vay phục vụ hoạt động SXKD, được bảo đảm bằng tài sản hoặc không có tài sản, hình thức cho vay hầu hết là trả góp, thời gian của khoản vay có thể là ngắn, trung và dài hạn. 11 - Cho vay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: Đối tượng KH là các cá nhân có hoạt động SXKD (có hoặc không có đăng ký kinh doanh) nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn), mua sắm tài sản cố định như trang thiết bị máy móc, nhà xưởng,… (trung và dài hạn). Hình thức cho vay này thường có mức lãi suất thấp hơn so với mục đích tiêu dùng, nguồn tài chính trả nợ của KH chủ yếu từ hoạt động SXKD, khoản vay có thể là cho vay từng lần, trả góp hoặc theo hạn mức. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay: - Cho vay có tài sản đảm bảo (TSĐB): Là khoản vay được bảo đảm bằng tài sản như bất động sản (nhà, đất, chung cư…), động sản (ô tô, tàu, thuyền, máy móc thiết bị,…) và tài sản khác (giấy tờ có giá, cổ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm,…).
Tài sản bảo đảm có thể hình thành từ vốn vay hoặc tài sản độc lập thuộc sở hữu của khách hàng hoặc tài sản thuộc sở hữu của bên thứ ba bảo lãnh cho khách hàng vay vốn. Tài sản bảo đảm làm nâng cao trách nhiệm trả nợ của khách hàng và tăng tính an toàn cho khoản vay do ngân hàng có thể tạo áp lực để buộc khách hàng phải trả nợ hoặc trong tình huống xấu nhất khách hàng không trả được nợ thì việc phát mại tài sản bảo đảm cũng giúp giảm bớt tổn thất cho ngân hàng. - Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay dựa trên sự tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, không có tài sản bảo đảm. Hình thức cho vay này thường áp dụng với các khách hàng có uy tín và nguồn tài chính tốt, ổn định.
Ngân hàng cho khách hàng vay tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên cơ sở tín chấp lương, chủ yếu được áp dụng đối với khách hàng có thu nhập ổn định, thu nhập ngoài việc trang trải các chi tiêu thường xuyên còn có một phần tích luỹ để trả nợ vay (công chức, viên chức trong biên chế Nhà Nước, nhân viên có hợp đồng lao động dài hạn,…). Ngoài ra, thu nhập hình thành từ sản xuất kinh doanh 12 cũng có thể được xem xét dùng làm nguồn trả nợ. Những khoản vay tín chấp thường có giá trị không lớn, thời hạn vay là ngắn hạn hoặc trung hạn. Theo quy định hiện hành của Agribank chi nhánh Bình Thuận, cho vay tín chấp được tập trung chủ yếu ở các đối tượng khách hàng là cán bộ, công nhân viên chức đang hưởng lương nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình Thuận.
ngoài ra còn có cho vay tín chấp thông qua tổ, hội có sự bảo lãnh của các Hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nự, Hội cựu chiến binh, … 2.3 Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân Theo Phạm Ngọc Dũng và Đinh Xuân Hạng (2012), vai trò của hoạt động cho vay được mô tả như sau: a. Đối với nền kinh tế xã hội - Góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của các thành phần kinh tế: hoạt động cho vay KHCN là kênh hỗ trợ vốn đến các đối tượng cá nhân nhằm mục đích phục vụ các nhu cầu tiêu dùng nhằm nâng cao chất lượng đời sống, trang trải các chi phí phát sinh từ các nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ. Để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng ngày càng tăng của khách hàng, buộc các thành phần kinh tế phải đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng sản phầm, dịch vụ và từ đó tạo ra những khác biệt tích cực giúp tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.