Chương 1: Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 3: Giải pháp gia tăng ảnh hưởng của các nhân tố tích cực nhằm nâng cao khả năng sinh lợi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Khả năng sinh lợi tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khả năng sinh lợi Khả năng sinh lợi là kết quả cụ thể nhất của quá trình kinh doanh, trong nền kinh tế thị trường, mọi doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng chỉ có thể tồn tại và đứng vững được bằng cách kinh doanh có hiệu quả. Do đó khả năng sinh lợi là chỉ tiêu quan trọng bậc nhất trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Khả năng sinh lợi là khái niệm được cấu thành từ sự kết hợp giữa hai thành phần là lợi nhuận và khả năng, trong đó: - Lợi nhuận là phần thu nhập nhận được qua quá trình đầu tư của doanh nghiệp sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư trong kỳ.
Đối với NHTM thì lợi nhuận được xác định bằng khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu trừ đi tổng các khoản chi phí hợp lý, hợp lệ phải trả. - Khả năng biểu thị cho năng lực tạo ra lợi nhuận hoặc hiệu suất hoạt động của ngân hàng, phản ánh sức mạnh của một ngân hàng để kiếm được lợi nhuận. Khả năng của một ngân hàng cũng biểu hiện cho sức sinh lợi của ngân hàng đó. Theo Harward và Upton (1991) thì khả năng sinh lợi là khả năng thực hiện hoạt động đầu tư để tìm kiếm lợi nhuận từ việc sử dụng chính nó.
Còn theo Hermanson và cộng sự (1987) thì khả năng sinh lợi chỉ ra mối quan hệ tương đối giữa thu nhập tạo ra với nguồn lực được sử dụng để tạo ra thu nhập đó. Như vậy, khả năng sinh lợi là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ, chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Từ phân tích trên có thể thấy lợi nhuận và khả năng sinh lợi là hai khái niệm có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau, nhưng lại là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Lợi nhuận là khái niệm liên quan đến con số tuyệt đối, ngược lại khả năng sinh lợi lại là một khái niệm tương đối.
Trong khi lợi nhuận là thu nhập tích lũy còn lại sau khi đáp ứng các chi phí sản xuất, chi phí quản lý thì khả năng sinh lợi đo lường lợi nhuận và mối quan hệ của nó với các yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Lợi nhuận cho thấy thu nhập của một ngân hàng trong một khoảng thời gian cụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong khi đó, khả năng sinh lợi cho thấy mức lợi nhuận so với các khoảng thời gian tương đương biến động như thế nào (không đổi, được cải thiện hay đang xấu đi). Khả năng sinh lợi của NHTM được đo lường dựa trên số liệu kế toán qua các thời điểm từ quá khứ đến hiện tại.
Khả năng sinh lợi của NHTM được phân tích thông qua các tỷ suất sinh lợi của NHTM. Các tỷ suất sinh lợi là các tỷ số tài chính với tử số là lợi nhuận và mẫu số là các nguồn hình thành lợi nhuận. Các hoạt động kinh doanh tạo ra lợi nhuận Như trên đã chỉ ra, lợi nhuận là thu nhập tích lũy còn lại sau khi đáp ứng các chi phí sản xuất, chi phí quản lý của ngân hàng và là một trong những thành phần quan trọng để xác định khả năng sinh lợi của NHTM, trong đó: - Thu nhập của ngân hàng gồm doanh thu từ toàn bộ các lĩnh vực kinh doanh dịch vụ của ngân hàng mang lại. Thu nhập của ngân hàng là nguồn để trang trải chi phí mà ngân hàng đã bỏ ra và hình thành nên lợi nhuận của ngân hàng.
Năng lực tài chính của ngân hàng chịu ảnh hưởng rất lớn từ thu nhập. - Chi phí của ngân hàng: Là toàn bộ các chỉ tiêu liên quan đến sự tồn tại và hoạt động của NHTM như chi phí trả lãi tiền gửi, tiền tiết kiệm; chi phí tiền lương, tiền công lao động và các phúc lợi của nhân viên, chi phí quản lý (khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn, chi công cụ lao động, giấy tờ in, kho tàng, vận chuyển, quảng cáo…) và các khoản chi khác. Chi phí của ngân hàng là nhằm duy trì sự tồn tại và mở rộng kinh doanh với mục đích để tạo ra thu nhập. Xét trên phương diện kế toán thì chi phí được hình thành trước, do chi phí tạo ra thu nhập, song mọi tính toán về chi phí như quyết định nên chi hay không, nếu chi thì bao nhiêu là phù hợp… lại do dự tính về thu nhập quyết định.
Do đó phần này sẽ đi vào phân tích các hoạt động kinh doanh cơ bản tạo ra lợi nhuận cho NHTM. Hoạt động huy động vốn Hoạt động huy động vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Hoạt động huy động vốn là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn cho ngân hàng, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chi phối toàn bộ các hoạt động khác và đóng vai trò quyết định đối với việc thực hiện các chức năng của NHTM.
Kết cấu nguồn vốn của một NHTM gồm có nguồn vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và nguồn vốn khác. Mỗi loại vốn đều có một tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của NHTM. Vốn chủ sở hữu: đây là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động. Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng nhưng đóng vai trò rất quan trọng.
Vốn chủ sở hữu có tính ổn định cao và là cơ sở để thu hút các nguồn vốn khác đồng thời có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tài trợ cho các tài sản cố định của NHTM, cho hoạt động liên doanh liên kết, mở rộng mạng lưới hay để chống rủi ro. Vốn chủ sở hữu cho thấy thực lực, quy mô của ngân hàng. Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn điều lệ - vốn pháp định và vốn bổ sung bao gồm lợi nhuận chưa chia và các quỹ như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro và quỹ khác… Vốn huy động: Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức và cá nhân trong xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động. Nguồn vốn này ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn.
Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM. Vốn huy động gồm có vốn nhận tiền gửi và phát hành GTCG. - Nhận tiền gửi: Đây là các khoản ký thác của cá nhân hoặc tổ chức vào ngân hàng để thanh toán, để sinh lời hoặc với mục đích bảo quản tài sản. Bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm.
- Phát hành giấy tờ có giá: Các NHTM có thể huy động vốn bằng cách phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác với nhiều kỳ hạn, lãi suất khác nhau, ghi danh hoặc không ghi danh nhằm đa dạng hóa hình thức huy động vốn và đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng. Với hình thức huy động này các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi thông thường. Vốn đi vay: Trong quá trình hoạt động nếu NHTM thiếu hụt tạm thời dự trữ bắt buộc hoặc khả năng chi trả thì ngân hàng có thể vay nợ từ: (i) Các TCTD khác thông qua thị trường liên ngân hàng, tự vay tự trả giữa các ngân hàng; (ii) NHTW thông qua LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hình thức vay chiết khấu, tái chiết khấu, vay cầm cố giấy tờ có giá, vay lại theo hồ sơ tín dụng, vay khác, lúc này NHTW sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM. Vốn khác gồm: Các khoản huy động của ngân hàng thông qua việc cung cấp các phương tiện thanh toán ở dưới dạng tiền tạm giữ; tiền đang chuyển; các khoản phải trả; vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn ủy thác đầu tư được cho vay theo các chương trình, các dự án xây dựng cơ bản tập trung của Nhà nước hoặc trợ giúp cho các dự án đầu tư phát triển cho những chương trình, dự án có mục tiêu riêng.
Hoạt động sử dụng vốn Sau khi huy động được vốn, NHTM phải tìm cách để sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Thông thường nguồn vốn NHTM huy động được chủ yếu được sử dụng cho hoạt động cấp tín dụng và hoạt động đầu tư. Ðây là các hoạt động cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng đồng thời cũng là hoạt động chủ yếu đem lại nguồn thu để bù đắp chi phí hoạt động của ngân hàng. Hoạt động cấp tín dụng: là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả.
Hoạt động cấp tín dụng rất đa dạng và phong phú, là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu cho NHTM, gồm một số nghiệp vụ cơ bản sau: - Cho vay: Là hoạt động trong đó NHTM sẽ cho người đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng được kiểm soát tình hình tài chính của người đi vay và quá trình sử dụng vốn vay.