LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu: Trong xu hướng quốc tế hoá mạnh mẽ nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) kể từ ngày 01/11/2007. Sự kiện này sẽ mở ra các cơ hội cho nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành Ngân hàng nói riêng để ngày càng hội nhập sâu và rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường.
Do đó, vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại cổ phần (sau đây gọi là “NHTMCP”) Việt Nam với các ngân hàng nước ngoài, mà trước mắt là nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro đã trở nên cấp thiết đối với hệ thống ngân hàng thương mại (sau đây gọi là “NHTM”) Việt Nam. Bình Dương là một tỉnh mới phát triển, có lợi thế là một trong những tỉnh thành có chỉ số cạnh tranh cao (năm 2009 xếp thứ 2, năm 2010 xếp thứ 5), là một tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế nhanh vào bậc nhất cả nước với tổng sản phẩm GDP năm 2010 tăng 14,5%, vượt chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra và cao hơn năm 2009 (13%); GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 30,1 triệu đồng, vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Trong tổng hòa hoạt động của các ngành kinh tế, ngành ngân hàng được coi là huyết mạch, là chất kết nối sự phát triển. Vì vậy, hướng đến một hoạt động tín dụng bền vững, có nền tảng, đảm bảo chất lượng là mục tiêu hàng đầu của tỉnh.
Hơn nữa, hiện nay hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động mang lại thu nhập chính cho các NHTM Việt Nam, vì thế rủi ro tín dụng (sau đây gọi là “RRTD”) vẫn là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại hậu quả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 nghiêm trọng nhất cho các Ngân hàng. Vì vậy, xem xét và quản trị RRTD là một vấn đề cần được đặt lên hàng đầu. Trên cơ sở thực tiễn làm việc tại một NHTM trên địa bàn tỉnh, tôi nhận thấy quá trình phát triển tín dụng của địa bàn vẫn còn thể hiện một vài điểm cần lưu ý về mặt chất lượng: tốc độ phát triển tín dụng nhanh, tỷ lệ cho vay các ngành như đầu tư kinh doanh BĐS cao, tỷ lệ nợ quá hạn cao… Với mong muốn tìm ra những nguyên nhân để đưa ra những giải pháp phù hợp, đóng góp một phần cách nhìn nhận của những người làm hoạt động cho vay để hoạt động này thực sự thúc đẩy kinh tế tỉnh phát triển, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD tại các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương”. Mục tiêu nghiên cứu: 2.
Mục tiêu chung: Mục tiêu chung của đề tài này là phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm hạn chế RRTD tại các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTMCP, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế của tỉnh Bình Dương. Mục tiêu cụ thể: Mục tiêu 1: Phân tích hiệu quả hoạt động tín dụng tại các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương, chú trọng phân tích các chỉ tiêu thể hiện chất lượng tín dụng. Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến RRTD đối với các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế RRTD tại các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 3. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nguyên nhân dẫn đến RRTD và các giải pháp nhằm giải quyết các nguyên nhân nói trên để hạn chế RRTD. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng, phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của các NHTMCP đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
Phƣơng pháp nghiên cứu và thu thập số liệu: 4. Phương pháp nghiên cứu: Theo sự hiểu biết của người viết, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến RRTD, trong đó có các yếu tố thuộc về bản chất, không thể thay đổi và cũng có những yếu tố mang tính chất địa phương, chuyên biệt, đặc trưng đối với từng vùng, miền, loại hình vay. Để phân tích RRTD của các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương, trong đề tài này người viết sẽ sử dụng phương pháp định lượng và định tính. Nghiên cứu định lượng: - Mục tiêu 1: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để mô tả mẫu nghiên cứu và phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng các NHTMCP trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Mục tiêu 2: Sử dụng mô hình xác suất Binary Logistic (Logit) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến RRTD của ngân hàng. Mô hình Logit được sử dụng trong nghiên cứu này có dạng như sau: Y= α0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + β7X7+ β8X8 Trong đó : Y là xác suất trả nợ của các khoản vay được đo lường theo 2 khả năng là trả được nợ (1) hay là khả năng không có RRTD và không trả được nợ (0) tức là khả năng có RRTD. Khi Y tiến từ 1 đến 0 thì xác suất trả được nợ vay LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 của món vay ngày càng giảm đi. Trong đề tài, chúng tôi quy ước các khoản vay có khả năng không trả được nợ là những khoản vay đã không hoàn thành việc trả gốc và lãi đúng hạn và theo quy định đang là các khoản vay quá hạn thuộc các nhóm nợ là nhóm 2, 3,4,5 và những khoản vay có khả năng trả được nợ thuộc nhóm 1.
Các khoản nợ được phân nhóm phù hợp theo quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 và quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN Việt Nam. Trong quá trình thu thập mẫu nghiên cứu chúng tôi đã xem xét hiệu chỉnh một số khoản vay được ngân hàng phân loại chưa phù hợp. Tuy nhiên các trường hợp phải điều chỉnh là không đáng kể. Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc được trình bày ở bảng 1.1 : Diễn giải các biến độc lập sử dụng trong mô hình Stt Biến số Đo lƣờng Kỳ vọng 1 Kinh nghiệm của Số năm khách hàng vay làm việc Tỷ lệ khách hàng đi vay trong ngành nghề vay vốn tính đến thuận (X1) thời điểm vay 2 Khả năng tài chính Vốn tự có tham gia vào phương án, Tỷ lệ của khách hàng vay dự án/tổng nhu cầu vốn của phương thuận (X2) án, dự án 3 TSĐB (X3) Số tiền vay/tổng trị giá TSĐB.
Tỷ lệ nghịch 4 Kinh nghiệm của Số năm trực tiếp làm công tác tín Tỷ lệ cán bộ tín dụng dụng thuận (X4) 5 Kiểm tra, giám sát Tổng số lần đã kiểm tra trước khi Tỷ lệ khoản vay(X5) khoản vay chuyển sang nợ quá thuận hạn/Tổng thời gian đã vay tính theo năm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 6 Sử dụng vốn vay Biến giả, bằng 1 là đúng mục đích, Tỷ lệ (X6) bằng 0 là sai mục đích thuận 7 Tính chất nguồn trả Biến giả, bằng 1 là nguồn trả nợ đã Tỷ lệ nợ (X7) hiện hữu, ổn định và bằng 0 là thuận nguồn trả nợ dự kiến, sẽ phát sinh trong tương lai. 8 Tính chất ngành Biến giả, bằng 1 là kinh doanh các Tỷ lệ nghề cho vay (X8) ngành nghề thông thường (ngoài thuận kinh doanh chứng khoán và BĐS), bằng 0 là kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán và BĐS. Biến thứ nhất, kinh nghiệm của khách hàng đi vay (X1). Các nghiên cứu về RRTD đã kết luận năng lực quản trị và kinh nghiệm làm trong lĩnh vực kinh doanh của người vay là những yếu tố quan trọng để thực hiện thành công một dự án, phương án kinh doanh.
Người nhiều kinh nghiệm sẽ có khả năng dự báo những tình huống xấu nhất cũng như có khả năng ứng phó kịp thời những bất trắc xảy ra, giảm thiểu tối đa được các hậu quả phát sinh. Trong nghiên cứu này, tôi kỳ vọng rằng những người càng làm lâu trong ngành nghề nào đó thì khả năng thành công càng cao hay kinh nghiệm của người vay tỷ lệ thuận với khả năng trả nợ của người vay (tức là tỷ lệ nghịch với RRTD). Tuy nhiên có một lưu ý trong xây dựng biến thứ nhất này, đó là : Đối với khách hàng cá nhân vay mua tiêu dùng như mua nhà, đất, mua xe, kinh nghiệm sẽ là 0 năm, trừ trường hợp khách hàng cá nhân vay mua nhà đất hoặc xe,… để thực hiện kinh doanh thì mới xác định kinh nghiệm. Biến thứ hai, khả năng tài chính của khách hàng vay (X2), được đo lường bằng tỷ lệ giữa vốn tự có tham gia vào dự án, phương án trên tổng nhu cầu vốn của dự án, phương án đó.
Theo các nghiên cứu thì tiềm lực của người vay càng mạnh sẽ có khả năng chịu đựng rủi ro càng cao. Vì vậy trong nghiên cứu này chúng tôi kỳ vọng rằng vốn tự có của người vay tham gia vào dự án, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 phương án càng lớn thì dự án sẽ dễ thành công hơn và rủi ro thấp hơn, hay năng lực tài chính của khách hàng vay tỷ lệ thuận với khả năng trả nợ của khách hàng. Biến thứ ba, tài sản đảm bảo (sau đây gọi là TSĐB) của khách hàng vay (X3). Biến số độc lập này được đo lường bằng tỷ số giữa số tiền vay trên giá trị TSĐB.
Khoản vay có TSĐB sẽ chắc chắn hơn và khả năng thu hồi nợ cao hơn vì lúc đó người vay bị ràng buộc nghĩa vụ thanh toán nợ cho ngân hàng, có nghĩa là tỷ số này có quan hệ tỷ lệ nghịch với khả năng trả nợ của khách hàng vay (tức là tỷ lệ thuận với RRTD). Thêm vào đó, khi người đi vay có TSĐB (hoặc có những người thân dùng TSĐB để bảo lãnh cho họ hoặc doanh nghiệp họ làm chủ) thì cũng thể hiện được tiềm lực tài chính và quá trình tích lũy tài chính của khách hàng vay là tốt. Tuy nhiên, việc định lượng biến thứ ba như trên cũng chỉ mang tính chất tương đối vì còn tùy vào loại TSĐB.