Chương 1 Nội dung chương này, tác giả đã trình bày tổng quan về các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước, cũng như phương pháp nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu…. tiếp đến chương 2 tác giả sẽ trình bày về cơ sở lý thuyết của dịch vụ, sự hài lòng, các mô hình đánh giá sự hài lòng từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cho khóa luận. SVTH: Võ Thị Cẩm Vân Trang 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Huỳnh Minh Đoàn Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THẺ NGÂN HÀNG 2.1 Khái niệm dịch vụ thẻ ngân hàng Khái niệm về dịch vụ Dịch vụ là một hoạt động có chủ đích của con người nhằm đáp ứng một nhu cầu nào đó và sản phẩm của dịch vụ có đặc điểm là không có hình dạng hữu hình cụ thể mà thường tồn tại dưới trạng thái vô hình nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu nhất định của xã hội.
Xã hội ngày càng phát triển thì dịch vụ cũng được mở rộng không ngừng trong hầu hết mọi lĩnh vực do đó dịch vụ ngày càng đa dạng và phong phú. Do tính chất đa dạng và vô hình của dịch vụ nên hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa thống nhất cùng về dịch vụ. Có thể lấy ví dụ, theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” (Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, trang 256). Tuy nhiên cách giải thích này còn mang tính chất chung chung và chưa thực sự làm rõ được bản chất cốt lõi của dịch vụ.
Còn theo Luật Giá năm 2013 thì định nghĩa: “Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật”. Khoản 9, điều 3, mục 1 của Luật Thương mại 2005 định nghĩa: “Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận”. Theo Adam Smith từng định nghĩa rằng, "Dịch vụ là những nghề hoang phí nhất trong tất cả các nghề như cha đạo, luật sư, nhạc công, ca sĩ ôpêra, vũ công.Công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra". Câu “công việc của tất cả bọn họ tàn lụi đúng lúc nó được sản xuất ra” từ định nghĩa này, ta có thể nhận thấy rằng Adam Smith có lẽ muốn nhấn mạnh đến khía cạnh "không tồn trữ được" của sản phẩm dịch vụ, tức là được sản xuất và tiêu thụ đồng thời.
SVTH: Võ Thị Cẩm Vân Trang 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Huỳnh Minh Đoàn C. Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thoả mãn nhu cần ngày càng cao đó của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển". Như vậy, với định nghĩa trên, C.
Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và sự phát triển của dịch vụ, kinh tế hàng hóa càng phát triển thì dịch vụ càng phát triển mạnh. Theo Quinn và ctg (1987) cho rằng dịch vụ bao gồm tất cả các hoạt động kinh tế tạo ra sản phẩm không mang tính vật chất, được sản xuất và tiêu dùng đồng thời và mang lại những giá trị gia tăng dưới các hình thức (như sự tiện lợi, sự thích thú, sự kịp thời, sự tiện nghi và sự lành mạnh) mà các lợi ích vô hình này về bản chất dành cho khách hàng đầu tiên. Theo Gronrooss (1990) cho rằng “Dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ - nơi giải quyết các vấn đề của khách hàng.” Theo Zeithaml và Britner (2000): “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Từ quan điểm này cho ta thấy được ý nghĩa và mục đích sự xuất hiện của dịch vụ, dịch vụ ra đời để tạo ra giá trị cho khách hàng.
Theo Kotler và Armstrong (2004): “Dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng”. Với quan niệm này cho ta thấy mục đích của dịch vụ nữa là tạo quan hệ lâu dài với khách hàng. Theo ISO 8402 “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Theo Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2007) cho rằng dịch vụ bao gồm ba đặc điểm cơ bản là vô hình, không đồng nhất và không thể tách ly.
Từ các định nghĩa trên tác giả hiểu rằng “Dịch vụ là những hoạt động tạo ra sản phẩm vô hình, sản phẩm này không tồn trữ được vì quá trình sản xuất và tiêu SVTH: Võ Thị Cẩm Vân Trang 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Huỳnh Minh Đoàn thụ xảy ra đồng thời, dịch vụ xuất hiện nhằm mang lại giá trị sử dụng, thỏa mãn nhu cẩu khách hàng, giúp doanh nghiệp củng cố và mở rộng mối quan hệ lâu dài với khách hàng, tạo ra lợi thế cạnh tranh trên thị trường.” Việc quan niệm theo nghĩa rộng hẹp khác nhau về dịch vụ, một mặt tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia trong một thời kỳ lịch sử cụ thể; mặt khác, còn tùy thuộc vào phương pháp luận kinh tế của từng quốc gia. Những quan niệm khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác nhau đến chất lượng dịch vụ, đến quy mô, tốc độ phát triển cũng như tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là khái niệm gây nhiều chú ý và tranh cãi trong các tài liệu nghiên cứu bởi vì các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ mà không hề có sự thống nhất nào (wisniewski, 2001).
Chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis và Mitchell, 1990; Asubonteng và ctg, 1996; Wisniewski và Donnelly, 1996). Theo Edvardsson, Thomsson và Ovretviet (1994) cho rằng “Chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ.” Parasuraman, Zeithml và Berry (1988, trang 12) đã định nghĩa: "Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ". Khác với chất lượng hàng hóa là hữu hình và có thể đo lường bởi các tiêu chí khác quan như: tính năng, đặc tính và độ bền, còn chất lượng dịch vụ chỉ là vô hình, nghĩa là khách hàng nhận được dịch vụ thông qua các hoạt động giao tiếp, nhận thông tin và cảm nhận.
Đặc điểm nổi bật của khách hàng chỉ có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng dịch vụ đã "mua" và "sử dụng" chúng. Do đó, tài liệu xác định chất lượng dịch vụ dựa theo: chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết. Zeithaml (1988) giải thích: Chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính siêu việt và sự tuyệt vời nói chung của một thực thể. Nó là một dạng của thái SVTH: Võ Thị Cẩm Vân Trang 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Huỳnh Minh Đoàn độ và các hệ quả từ một sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức những gì ta nhận được (Zeithaml, 1987, dẫn theo Nguyễn Hoàng Châu, 2004). Còn Lewis và Booms (1983), trích trong Trương Quang Thịnh (2009) phát biểu: "Dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của các khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất". Nhận định này chứng tỏ rằng chất lượng dịch vụ liên quan đến những mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ.
Bên cạnh đó, để nghiên cứu cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ, Gronroos (1988) đã đánh giá chất lượng dịch vụ theo cảm nhận của khách hàng xuất phát từ việc so sánh cái khách hàng cảm thấy tổ chức nên cung cấp (mong đợi của họ) và sự nhận thức của khách hàng về thành quả do tổ chức cung cấp các dịch vụ (nhận thức của họ). Theo Tổ chức quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO 9000:2000 đã đưa ra định nghĩa về chất lượng như sau: “Chất lượng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu. Một sản phẩm chất lượng là sản phẩm đáp ứng yêu cầu của khách hàng và một tổ chức chất lượng là tổ chức đáp ứng các yêu cầu của các bên liên quan”. Như vậy, từ định nghĩa trên ta thấy rằng nếu một sản phẩm vì một lý do nào đó không được khách hàng chấp nhận thì bị coi là chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ chế tạo ra sản phẩm đó rất hiện đại.
Chất lượng dịch vụ như là các hoạt động, hiện tượng đã được lập kế hoạch, được nhắm tới và phấn đấu để thực hiện. Nó là một quy trình cần phải luôn luôn cải thiện với mục tiêu lấy khách hàng làm trung tâm, vì vậy việc đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng chính là những mục đích thật sự chất lượng. Chất lượng dịch vụ được đánh giá phụ thuộc vào các trường hợp khác nhau như văn hóa, lĩnh vực hoạt động và ngành nhề kinh doanh. Tùy thuộc vào môi trường nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu mà chất lượng dịch vụ sẽ có cách tiếp cận khác nhau và các đặc tính đặc trưng khác nhau.