Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 1. Các nghiên cứu nước ngoài Các nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động khuyến nông Nguyễn Phượng Lê và Koua Yangwanchort (2024) đã đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông ở huyện Long Xan, tỉnh Xay Sôm Bun, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào. Nghiên cứu đã đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông do Trạm Khuyến nông và HTX huyện Long Xan tổ chức và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao kết quả hoạt động khuyến nông của Trạm.
Số liệu được thu thập từ 100 hộ nông dân và được phân tích thống kê mô tả, so sánh. Kết quả chỉ ra rằng hoạt động khuyến nông của Trạm đã thúc đây nông dân ứng dụng kỹ thuật mới, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và cải thiện thu nhập của hộ. Mặc dù vậy, hoạt động khuyến nông của Tram còn hạn chế như: (1) Thiếu thông tin về thị trường và giả cả sản phẩm trong nội dung khuyến nông: (2) Phương pháp và địa điểm tổ chức tập huấn chưa phù hợp; (3) Thiếu kinh phí hỗ trợ xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn; (4) Nhân lực cho khuyến nông thiếu về số lượng và hạn chế về chất lượng; (5) Nông dân có trình độ học vấn thấp nên ảnh hưởng đến việc ứng dụng kỹ thuật được chuyên giao. Giải pháp cần được thực hiện dé cải thiện kết quả hoạt động khuyến nông của Trạm gồm: bồ sung số lượng và nâng cao chất lượng nhân lực, đổi mới hoạt động khuyến nông và xã hội hóa nguồn lực tài chính Các nghiên cứu về hiệu quả của các biện pháp nông nghiệp thông minh với khí hậu Opeyemi và cộng sự (2021) đã điều tra tác động của Thực hành Nông nghiệp thông minh thích ứng với khí hậu đến tình trạng an ninh lương thực của các hộ nông dân tại Khu vực chính quyền địa phương Đông Bắc Ika, Bang Delta, Nigeria.
Nghiên cứu đã khảo sát 140 nông hộ tại địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần lớn nông dân đều biết đến các hoạt động CSA như: Nông lâm kết hợp, Luân canh, Trồng xen canh, Làm phân hữu cơ, Cải thiện đất bỏ hoang, Phân hữu cơ, Phủ rơm rạ và Cây che phủ. Các biện pháp này đã góp phần cải thiện an ninh lương thực tại địa phương. Teklu và cộng sự (2022) đã nghiên cứu về hiệu quả của đổi mới nông nghiệp thông minh với khí hậu trong hệ thống nông nghiệp hộ nhỏ ở Ethiopia.
Nghiên cứu đã khảo sát 424 nông dân sản xuất nhỏ từ năm hệ sinh thái nông nghiệp của vùng cao nguyên Blue Nile ở Ethiopia. Những đổi mới của CSA tại khu vực nghiên cứu gồm cải tiến giống, phân hữu cơ, trồng theo hàng và nông lâm kết hợp. Những giải pháp này đã mang lại lợi ích là tăng cường an ninh lương thực và thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính từ các lô trang trại. Nông dân nên được khuyến khích áp dụng giống cải tiến, luân canh cây trồng, phân hữu cơ, trồng theo hàng, bảo tồn đất và nước, và nông lâm kết hợp là danh mục đầu tư tốt nhất về đổi mới CSA cho các hệ thống nông nghiệp nông hộ nhỏ vùng cao.
Vatsa và cộng sự (2023) đã nghiên cứu hiệu quả của việc áp dụng các thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu tại năm tỉnh của Trung Quốc (Giang Tô, Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam và Tứ Xuyên). Nghiên cứu đã khảo sát 200 nông dân trồng lúa áp dụng phương pháp cải tiễn giống lúa, sử dụng phân chuồng trại, công nghệ tiết kiệm nước và thuốc trừ sâu sinh học. Các mô hình áp dụng CSA đều cho năng suất tăng hơn từ 15 - 35%. Các nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu về hiệu quả của hoạt động khuyến nông Trần Quốc Nhân và Ly Văn Thảo (2011) đã nghiên cứu về kết quả thực hiện các chính sách khuyến nông của tỉnh Hậu Giang năm 2017.
Kết quả cho thấy việc thực hiện các chính sách khuyến nông về (1) Bồi dưỡng tập huấn và truyền nghề, (2) Thông tin tuyên truyền, (3) Chính sách xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn, (4) Khuyến khích hoạt động tư vấn và dịch vụ khuyến nông đạt kết quả tương đối tốt. Trong đó, trung tâm khuyến nông tỉnh Hậu Giang đã thực hiện tốt Dự án chuyên đôi nông nghiệp bền vững (VnSAT), các dự án Khuyến nông Trung ương cũng như các dự án, mô hình khuyến nông từ nguồn kinh phí địa phương. Bên cạnh đó, việc thực hiện các chính sách khuyến nông ở tỉnh Hậu Giang bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm nhân tố là (1) Sự hoàn thiện về hệ thống tô chức khuyến nông và chất lượng đội ngũ CBKN, (2) Sự hiểu biết và nhận thức của nông dân và (3) Sự phân bổ hop lý kinh phí cho từng hoạt động khuyến nông, phương tiện và trang thiết bị triển khai thực hiện. Trịnh Hải Vân và Vi Thị Hồng Phúc (2019) đã phân tích về thực trạng các hoạt động KN, tác động của hoạt động KN đến phát triển kinh tế hộ gia đình (HGD) tại bản Bó Hốc, xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Nghiên cứu đã đánh giá tác động của hoạt động khuyến nông đến phát triển kinh tế HGĐ cả về mặt kinh tế và mặt xã hội dựa trên sự tham gia của các HGD vào các hoạt động khuyến nông như (i) tập huấn và đào tao; (ii) xây dung mô hình va (iii) thông tin tuyên truyền. Kết quả cho thấy hoạt động tập huấn kỹ thuật được người dân quan tâm nhiều nhất. Hoạt động thông tin tuyên truyền nhìn chung hiệu quả chưa cao do số lượng hộ gia đình được tiếp cận với tờ rơi và ấn phâm khuyến nông còn chưa day đủ. Tác động rõ rệt nhất của hoạt động KN đến phát triển kinh tế HGD là về mặt đóng góp của mô hình KN đến tông thu nhập của hộ.
Nguyễn Mậu Dũng và Vũ Thị Thanh Nga (2022) đã đánh giá thực trạng hoạt động khuyến nông trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động khuyến nông bao gồm công tác thông tin tuyên truyền, tập huấn, xây dựng mô hình trình diễn và tư vấn, dịch vụ khuyên nông được triển khai khá tích cực trên địa bàn thị xã và đạt được những kết quả đáng kể, góp phần thúc đây sản xuất nông nghiệp phát triển. Mặc dù vậy, hoạt động khuyến nông của thị xã vẫn còn những tồn tại do nguồn kinh phí hạn hẹp, do năng lực của đội ngũ cán bộ khuyến nông, do những bất cập trong chính sách khuyến nông của Nhà nước. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường hoạt động khuyến nông trên địa ban thị xã trong thời gian tới.
Các nghiên cứu về hiệu quả của các biện pháp nông nghiệp thông minh với khí hậu Trong sản xuất lúa, các nội dung thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu gồm: ứng dụng quản lý cây trồng tổng hợp (ICM); canh tác lúa theo 3 giảm 3 tăng (3G3T); canh tác lúa theo 1 phải 5 giảm (1P5G); hệ thống thâm canh lúa tổng hop (SRD; tưới tiết kiệm (tưới nông - lộ - phơi, hay tưới ướt - khô luân phiên); bón phân nén đúi sâu (FDP); cấy lúa theo hàng rộng hàng hẹp; sản xuất lúa tái sinh (lúa chét) vụ mùa, hè-thu; cấy lúa hẻ-thu không làm đất (Phạm Thị Sến và cộng sự, 2017). Do đó, đề tài tổng quan các nghiên cứu về hiệu quả của các nội dung trên. Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành (2014) đã so sánh hiệu quả tài chính giữa mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (1P5G, 3G3T, IPM) và mô hình không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Số liệu phục vụ nghiên cứu được thu thập từ 750 nông hộ sản xuất lúa thuộc các tỉnh khu vực ĐBSCL.
Ứng dụng phương pháp các tỷ số tài chính và kiểm định trung bình giữa hai tổng thé độc lập, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mô hình sản xuất lúa có ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đạt hiệu quả tài chính cao hơn so với mô hình không ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Vũ Anh Pháp (2017) đã đánh giá hiệu quả của phân nén dui sâu (FDP) tan chậm đến sinh trưởng và năng suất lúa vụ Hè Thu 2016 trên vùng đất nhiễm phèn, tỉnh Đồng Tháp. Nghiên cứu được thực hiện tại hợp tác xã Phú Cường, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp trong vụ Hè - Thu 2016. Kết quả thí nghiệm cho thay phân tan chậm cung cấp đủ dinh dưỡng đề cây trồng phát triển qua các giai đoạn sinh trưởng.
Nghiệm thức phân tan chậm với công thức N-P-K: 60-46-39 cho hiệu quả cao nhất di chỉ sử dụng 50% đạm, 57% lân và 65% kali so với công thức phân bón truyền thong của nông dân nhưng lại đạt năng suất và chất lượng tương đương, đồng thời ít nhiễm sâu bệnh. Dương Thanh Ngọc (2017) đã nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật theo hướng thâm canh lúa cải tiến (SRI) trong sản xuất lúa chất lượng tại tinh Quang Bình. Nghiên cứu đã tiến hành mô hình thực nghiệm so sánh giữa sản xuất lúa áp dụng thâm canh lúa cải tiến (SRI) và sản xuất theo mô hình truyền thống. Kết quả phân tích hiệu quả kinh tế và tính toán lượng khí pahts thải nhà kinh CH4 và NaO cho thay, mô hình SRI cho năng suất cao hơn đối chứng (truyền thống) từ 19,6 - 22,5%, lợi nhuận vượt đối chứng (tuyén thống) từ 30,4% - 32,7%.
Phát thải khí CHạ trên mô hình sản xuất SRI giảm từ 11,97 - 17,68% và phát thải khí N2O giảm từ 13,09 - 18,52% so với canh tác truyền thống. Nguyễn Lý Bang (2020) đã nghiên cứu các yếu tố anh hưởng đến việc áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm (AWD) trong sản xuất lúa tại huyện Mộc Hóa tỉnh Long An. Nghiên cứu đã khảo sát 197 nông hộ sản xuất lúa tại huyện Mộc Hoá. Qua phân tích hiệu quả kinh tế và so sánh, nghiên cứu cho thấy mô hình áp dụng tưới tiết kiệm (AWD) mang lại hiệu quả cao hơn mô hình truyền thống.
Huỳnh Văn Chương và cộng sự (2020) đã tìm hiểu các mô hình canh tác nông nghiệp thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam. Đối tượng tham gia chính là 90 hộ dân tộc thiêu số Xo Đăng. Các phương pháp nghiên cứu gồm phỏng vấn người am hiểu, phân tích hiệu quả kinh tế và phân tích phương sai ANOVA.